Tìm kiếm
Lượt truy cập
Nghiên cứu - Trao đổi
Cập nhật ngày: 22/05/2017, 10:28 SA - Số lần xem: 322
Một số vấn đề cần được làm rõ trong Dự thảo Luật Quy hoạch

Bản Dự thảo Luật Quy hoạch được trình xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội là kết quả nghiên cứu, tham gia đóng góp của các chuyên gia, các cơ quan quản lý nhà nước, của Chính phủ và chính quyền địa phương, các Ban chuyên trách của Quốc hội. Đến nay, sự cần thiết phải ban hành Luật Quy hoạch và những nội dung cốt lõi của dự thảo Luật đã nhận được sự đồng thuận cao của nhiều bên. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần phải được làm rõ để khi Luật Quy hoạch được thông qua có thể đạt được hiệu quả và khả thi cao nhất.

Về định nghĩa “Quy hoạch”

Thuật ngữ “quy hoạch” được định nghĩa tại Điều 3 của Dự thảo Luật. “Quy hoạch” ở đây không phải là các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội (vùng, lãnh thổ); quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm; quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản hoặc quy hoạch xây dựng đang vận hành, mà là quy hoạch lãnh thổ hoặc không gian (như nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ thường gọi), nó mang tính tích hợp, liên ngành và được lập trên phạm vi lãnh thổ ba cấp: quốc gia, vùng và tỉnh.

Từ nhận thức trên, nên định nghĩa như sau: “Quy hoạch là việc phân bố, tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, dân cư, kết cấu hạ tầng xã hội và kỹ thuật, sử dụng hợp lý đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường, an ninh, quốc phòng trên phạm vi các cấp lãnh thổ cả nước, vùng, tỉnh và đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt nhằm huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững do Nhà nước đặt ra ở thời kỳ xác định”.

PGS.TS.KTS Trần Trọng Hanh phát biểu tại Hội thảo lấy ý kiến về Dự án Luật Quy hoạch

Hệ thống quy hoạch được sắp xếp lại có đảm bảo cơ sở khoa học và có tuân thủ Nghị quyết số 13/NQ-TW ngày 16/1/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI?

Hệ thống quy hoạch hiện nay gồm: (i) Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; (ii) Quy hoạch xây dựng; (iii) Quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường.

Điều 12 Dự thảo Luật Quy hoạch đã sắp xếp lại hệ thống quy hoạch như sau:

1. Quy hoạch cấp quốc gia gồm (i) quy hoạch tổng thể quốc gia; (ii) quy hoạch không gian biển quốc gia; (iii) quy hoạch sử dụng đất quốc gia; (iv) quy hoạch ngành quốc gia.

2. Quy hoạch vùng.

3. Quy hoạch tỉnh.

4. Quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn.

5. Quy hoạch các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định.

Cơ sở khoa học để cải cách hệ thống quy hoạch như trên gồm:

- Thực tế và những bất cập của hệ thống quy hoạch hiện nay: không mang tính hệ thống, phân lập, chồng chéo, chất lượng và hiệu quả thấp.

- Cập nhật xu thế “tổ chức và quy hoạch lãnh thổ của thời đại”, trong đó hệ thống quy hoạch đã được tổ chức lại theo ba loại: (i) quy hoạch lãnh thổ cho 3 cấp quốc gia, vùng và địa phương; (ii) quy hoạch ngành; (iii) quy hoạch đô thị và nông thôn.

- Phù hợp với xu hướng và phương pháp quy hoạch mới “Tích hợp, đa ngành, chiến lược, bền vững và sự tham gia của cộng đồng, dân cư”.

Cải cách hệ thống quy hoạch như trên cũng hoàn toàn tuân thủ Nghị quyết số 13/NQ-TW, trong đó nhấn mạnh: (i) Xây dựng Luật Quy hoạch có phạm vi điều chỉnh chung cho các loại quy hoạch phát triển trên phạm vi cả nước; (ii) Tạo cơ chế thẩm định độc lập, tập trung, do một đầu mối chịu trách nhiệm; (iii) Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch; (iv) Coi trọng công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra thực hiện quy hoạch và xử lý nghiêm các vi phạm quy hoạch.

Tuy nhiên, còn một số ý kiến khác với hệ thống quy hoạch này. Một là, giữ lại “quy hoạch xây dựng thay vào quy hoạch đô thị và quy hoạch nông thôn”. Hai là, sau khi lập quy hoạch tổng thể và ngành cấp quốc gia, có cần lập quy hoạch ngành ở cấp vùng không? Ba là, nếu không còn quy hoạch xây dựng thì quy hoạch xây dựng các khu chức năng đặc thù và các đơn vị lãnh thổ trong tỉnh được xếp vào đâu? Bốn là, lý do bỏ quy hoạch sản phẩm?

Về ý kiến thứ nhất: có thể khẳng định trên thế giới từ xưa đến nay không có quy hoạch xây dựng. Quy hoạch xây dựng ra đời ở nước ta từ những năm 1990 là hệ quả của thể chế quy hoạch quá độ từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên đến nay không còn phù hợp nữa.

Về ý kiến thứ hai: tùy thuộc vào mức độ nội dung và phương pháp của các loại quy hoạch cấp quốc gia. Nếu quan niệm các loại quy hoạch quốc gia chỉ là quy hoạch chiến lược tỷ lệ 1/500.000 - 1/1.000.000 thì ở cấp vùng tỷ lệ 1/100.000 - 1/500.000 có thể lập quy hoạch ngành. Tuy nhiên, cách lập quy hoạch như vậy không chỉ tốn kém mà bị kéo dài thời gian, chậm đưa chiến lược vào cuộc sống. Do đó, chủ trương của Dự thảo Luật Quy hoạch là tích hợp các quy hoạch ngành trong nội dung quy hoạch vùng và tỉnh là phù hợp, ở đó mỗi loại quy hoạch có thể được thực hiện thành một phần hoặc chương riêng với số lượng các bản đồ cần thiết.

Về ý kiến thứ ba: sau khi Luật Quy hoạch được Quốc hội thông qua phải tiến hành sửa đổi, bổ sung ngay Luật Quy hoạch đô thị (2009) thành Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, trong đó có 4 đối tượng phải điều chỉnh: (i) các đô thị loại đặc biệt (loại I, II, III, IV, V); (ii) các khu dân cư nông thôn (cấp xã hoặc các tổ hợp nông, công nghiệp); (iii) các đô thị mới; (iv) các đơn vị lãnh thổ kinh tế hành chính cấp huyện, liên huyện và các khu chức năng đặc thù. Tỷ lệ bản đồ cho quy hoạch đô thị và nông thôn thường áp dụng từ 1/500 - 1/25.000 tùy thuộc vào loại quy hoạch chung hay chi tiết.

Về ý kiến thứ tư: Quy hoạch sản phẩm là hệ quả của nền kinh tế quan liêu, bao cấp, kế hoạch hóa tập trung nên trong nền kinh tế thị trường không còn phù hợp. Do đó, khi Nhà nước không làm thay doanh nghiệp thì Nhà nước chỉ ban hành các chủ trương, mục tiêu lớn có tính định hướng kèm theo các chính sách tạo điều kiện. Tuy nhiên, Nhà nước không cấm việc lập các loại quy hoạch sản phẩm mà chỉ không đầu tư cho việc lập, thẩm định, phê duyệt loại quy hoạch này để dành quyền đó cho các tập đoàn, doanh nghiệp tự tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện.

Phạm vi điều chỉnh và khả năng phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước?

Quan niệm mới về quy hoạch hiện nay đã được sửa đổi từ nhận thức “Quy hoạch là một sản phẩm thiết kế, trù liệu sang Quy hoạch là một quá trình bao gồm nghiên cứu, thiết kế và thực hiện”.

Điều 1 đã quy định phạm vi điều chỉnh nhưng quá chi tiết, chỉ nên viết là “Luật này quy định về lập, thẩm định. Phê duyệt, điều chỉnh và quản lý thực hiện quy hoạch; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động quy hoạch”.

Do tiếp cận theo hướng tích hợp, đa ngành nên sản phẩm quy hoạch là “mẫu số chung”, dựa vào đó các ngành trung ương, địa phương triển khai lập các quy hoạch cấp dưới, lập kế hoạch, chương trình, đề án phát triển của ngành mình. Trong quá trình tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và thực hiện, các cơ quan, cá nhân phải tôn trọng các nguyên tắc của quy hoạch hiện đại, bao gồm: tính khoa học; tính thương thảo, điều phối; tính đề xuất; tính tham gia; tính tổng hợp và tính bền vững. Như vậy, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (hoặc Bộ Xây dựng) chỉ là cơ quan điều phối, tổng hợp, còn các Bộ, ngành phải chịu trách nhiệm về chất lượng, nội dung quy hoạch do ngành phụ trách. Điều này diễn ra tương tự ở các địa phương.

Theo kinh nghiệm của nhiều nước phát triển, “Hội đồng quy hoạch” sẽ đảm nhiệm trọng trách là quy hoạch trưởng (Chief Planner) sẽ giúp Chính phủ và chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ và cơ chế phối hợp liên ngành này.

Phương pháp lập quy hoạch theo hướng tích hợp có khó không?

Xu hướng quy hoạch tích hợp (Rational Comprehensive) là tất yếu. Vùng là một tổ chức lãnh thổ thống nhất, có thể ví như “một cỗ máy lớn”, muốn nó hoạt động hiệu quả không thể thiết kế chắp vá. Cách làm quy hoạch ở nước ta hiện nay đã lỗi thời. Các cấp lãnh thổ chỉ nên có một bản quy hoạch tổng thể làm cơ sở, các tổ chức cá nhân tham gia chế tạo ra nó phải tuân thủ một bản thiết kế có đủ 6 tố chất như đã nêu ở phần trên.

Vậy ai có đủ điều kiện năng lực lập một bản thiết kế tổng hợp này? Trong nền kinh tế thị trường, công việc này sẽ được giao cho một đơn vị tư vấn đủ điều kiện năng lực thông qua đấu thầu, chọn thầu, có khả năng tập hợp các tổ chức, đơn vị chuyên sâu thực hiện từng công việc chuyên môn.

Được gì, mất gì khi Luật Quy hoạch được Quốc hội khóa 14 thông qua?

Cái “mất” là những bất cập, tồn tại, yếu kém của hệ thống quy hoạch lỗi thời hiện nay đang vận hành, đang tạo ra những đồ án quy hoạch “cọc cạch”, “đầu Ngô, mình Sở”.

Cái “được” và cũng là cơ hội để chúng ta cải cách công tác quy hoạch cũ còn “vương vấn” bởi nền kinh tế quan liêu, bao cấp để chuyển sang thể chế quy hoạch tiên tiến, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

PGS.TS. KTS. TRẦN TRỌNG HANH - Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

© Trang tin điện tử Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
Giấy phép thiết lập số: 69/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 30 tháng 6 năm 2016
Cơ quan chủ quản: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội ĐT: 080.44889 Fax: 080.44889 - 080.44887 Email: khucongnghiep@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam" khi phát hành lại thông tin từ website này