Tìm kiếm
Lượt truy cập
Nghiên cứu - Trao đổi
Cập nhật ngày: 12/05/2017, 2:49 CH - Số lần xem: 537
Đảm bảo an sinh xã hội hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam

Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã “bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp” và tiếp tục đẩy mạnh “công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức”. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta gần đây luôn nhấn mạnh: phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng thời “thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển”. Bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước và hiện nay, nước ta đang phấn đấu đến năm 2020 hệ thống an sinh xã hội sẽ bao phủ khắp toàn dân.

Một số kết quả trong thực hiện chính sách an sinh xã hội thời gian qua

Bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng trong lãnh đạo đất nước. Đây là chính sách cơ bản để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh.

Trong gần 30 năm qua, cùng với những thành tựu đổi mới kinh tế, phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia, Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn, đầu tư nguồn lực và đổi mới cơ chế, chính sách để thực hiện an sinh xã hội, chăm lo cải thiện không ngừng cuộc sống của người dân. Cụ thể:

Thứ nhất, bảo đảm an sinh xã hội gắn với tiến bộ và phát triển xã hội, với thành tựu phát triển kinh tế trong bối cảnh kinh tế thị trường.

Trong thời gian qua, mặc dù có nhiều biến động về kinh tế trong nước và quốc tế, nguồn lực của đất nước còn hạn hẹp, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn coi trọng công tác bảo đảm an sinh xã hội, đặt nhiệm vụ phát triển dân sinh trong mối tương quan hài hòa và gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, giữa đầu tư phát triển kinh tế với đầu tư bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội; quan tâm đầu tư cho vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển, hải đảo, theo đó nhiều chính sách về an sinh xã hội được ban hành.

Các chương trình xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam ở tầm quốc gia đã thu được những kết quả tốt, được dư luận quốc tế thừa nhận và đánh giá cao, nhất là xóa đói, giảm nghèo cho nông dân ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Về việc giải quyết các vấn đề xã hội và thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho các cộng đồng dân cư, Việt Nam là một trong những quốc gia đã hoàn thành sớm các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, nhận được những đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế. Dù còn có những hạn chế và bất cập so với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, nhưng kết quả mà Việt Nam đạt được là những minh chứng về những tiến bộ đáng kể thực hiện an sinh xã hội.

Thứ hai, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện để bảo đảm quyền an sinh xã hội cho mọi người dân.

Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên khẳng định quyền an sinh xã hội cơ bản cho người dân (Điều 34 xác nhận “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”; Điều 59 đề ra trách nhiệm “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội”).

Bộ Luật Lao động sửa đổi (năm 2012) tiếp tục phát triển thị trường lao động, tăng cường điều kiện hoạt động của các đối tác tham gia thị trường lao động (Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức môi giới trung gian và người lao động); tăng cường hỗ trợ của Nhà nước đối với người lao động yếu thế trên thị trường thông qua các chính sách hỗ trợ tạo việc làm.

Luật Việc làm ban hành năm 2013, lần đầu tiên Việt Nam có Bộ Luật hướng đến khu vực kinh tế phi chính thức; tiếp tục mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp (mọi lao động làm việc trong các doanh nghiệp có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên đều bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp).

Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi (năm 2013) chuyển từ bao phủ toàn dân sang bảo hiểm y tế bắt buộc đối với toàn bộ dân cư; mở rộng sự tham gia của người dân vào bảo hiểm y tế (hoàn thiện chế độ đóng, chế độ hưởng và điều kiện hưởng bảo hiểm y tế); mở rộng đối tượng được Nhà nước bảo hộ một phần và toàn phần để tham gia bảo hiểm y tế.

Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi (năm 2014) mở rộng diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động làm việc có hợp đồng từ 1 tháng trở lên; tăng cường chế tài đối với việc trốn đóng bảo hiểm xã hội; hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện theo hướng linh hoạt và phù hợp với điều kiện về việc làm và thu nhập của lao động trong khu vực phi chính thức; đề xuất giải pháp khuyến khích người lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội; hiện đại hóa công tác quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ ba, đầu tư của Nhà nước cho an sinh xã hội ngày càng tăng. Nếu như năm 2012 tổng chi cho an sinh xã hội bằng 5,88% GDP thì đến năm 2015 con số này tăng lên khoảng trên 6,6% GDP. Mặc dù trong điều kiện kinh tế khó khăn, nhưng chính sách và các khoản chi dành cho an sinh xã hội không bị cắt giảm; các chính sách xã hội được thực hiện hiệu quả từ nhiều nguồn (vốn nhà nước, ODA, các chương trình viện trợ không hoàn lại của nước ngoài, nguồn lực xã hội từ các doanh nghiệp, tổ chức và nguồn lực từ trong nhân dân.

Thứ tư, Việt Nam đã đạt và vượt thời gian hoàn thành nhiều mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Đến cuối năm 2014, tỷ lệ nghèo theo chuẩn Quốc gia còn dưới 6%; đời sống của người dân, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng yếu thế được cải thiện và nâng cao. Đa số người dân có việc làm, tỷ lệ thất nghiệp thấp, dưới 2%; tỷ lệ người lao động tham gia bảo hiểm xã hội đạt trên 20%, tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 17%. Đa số người lao động đã tiếp cận được y tế cơ sở, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế trên 71,6%; khoảng 3% người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được hỗ trợ tiền mặt hằng tháng và các hình thức khác; cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, cấp tiểu học và trung học cơ sở; tình trạng nhà ở, nước sạch và thông tin được cải thiện đáng kể.

Một số hạn chế và thách thức đặt ra đối với việc bảo đảm an sinh xã hội hiện nay

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, song việc thực hiện các chính sách xã hội ở nước ta vẫn còn những hạn chế, tồn tại. Trong giai đoạn từ 2009 đến nay, do chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tăng trưởng GDP của Việt Nam giảm từ trên 8% (năm 2008) xuống còn dưới 6% (năm 2014), khả năng huy động ngân sách cho an sinh xã hội gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, từ năm 2012, Việt Nam đã bước vào ngưỡng thu nhập trung bình (thấp), nên các tài trợ quốc tế không hoàn lại bị cắt giảm đáng kể. Bên cạnh đó, Việt Nam lại thuộc nhóm nước Đông Nam Á chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu (như mưa bão, lũ lụt thường xuyên, nước biển dâng,…) gây thiệt hại mỗi năm khoảng trên 1% GDP. Xu hướng già hóa dân số nhanh hơn dự kiến đặt ra những thách thức về chi phí liên quan đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và chính sách an sinh xã hội.

Trong khi đó, hệ thống chính sách an sinh xã hội hiện hành còn phân tán, manh mún, thiếu sự gắn kết, chưa khuyến khích người dân tích cực tham gia... Hiệu quả chính sách còn hạn chế. Các chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn chưa gắn với nhu cầu thị trường lao động và nhu cầu sản xuất; chất lượng lao động chưa cao. Giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao; tỷ lệ nghèo ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa vẫn còn trên 50%, cá biệt có nơi còn trên 70%; chênh lệch giàu – nghèo, chênh lệch về thụ hưởng giáo dục và tiếp cận các dịch vụ xã hội giữa các vùng, nhóm dân cư có xu hướng gia tăng. Mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân còn nhiều thách thức,…

Có thể thấy, vẫn còn nhiều thách thức đang đặt ra đối với việc đảm bảo an sinh xã hội ở nước ta trong bối cảnh hiện nay:

Thứ nhất, mặc dù đã thu được một số kết quả rất đáng khích lệ, song chúng ta vẫn chưa hoàn thành một số chỉ tiêu cụ thể so với mục tiêu đề ra, như tỷ lệ việc làm trong nông nghiệp, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; một số chỉ tiêu về y tế, giáo dục; chỉ tiêu về tiếp cận nước sạch.

Thứ hai, chất lượng thực hiện các mục tiêu chưa cao. Chất lượng việc làm còn thấp; tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp còn cao; kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, mức chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, các nhóm dân cư có xu hướng gia tăng; tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tăng chậm; chất lượng phổ cập giáo dục còn chênh lệch; vẫn còn gần 25% dân số chưa tham gia bảo hiểm y tế; chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở chậm được triển khai; tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn quốc gia còn thấp.

Thứ ba, hệ thống chính sách an sinh xã hội còn cồng kềnh, chồng chéo. Hiện nay có khoảng trên 200 văn bản chính sách do Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan khác nhau ban hành và tổ chức thực hiện. Do quá nhiều chính sách, lại được ban hành ở nhiều giai đoạn khác nhau, áp dụng cho nhiều nhóm đối tượng rộng, hẹp khác nhau nên chồng chéo, thiếu tính hệ thống, gây khó khăn cho việc áp dụng chính sách, quản lý đối tượng. Chủ trương tích hợp hệ thống chính sách cũng như việc lồng ghép thực hiện chính sách cho cùng một nhóm hưởng thụ cũng chưa triển khai được.

Thứ tư, một số chương trình an sinh xã hội chưa thực sự hiệu quả. Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các chương trình trợ giúp xã hội còn phân tán về đối tượng, kinh phí, tổ chức thực hiện. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách về an sinh xã hội ở một số địa phương còn yếu, hình thức thông tin, tuyên truyền chưa hiệu quả. Chương trình giảm nghèo chưa khuyến khích người dân tự an sinh, người nghèo tự vươn lên thoát nghèo.

Thứ năm, việc bảo đảm an sinh tối thiểu cho người dân gặp nhiều khó khăn, thách thức, do số lượng các chương trình an sinh xã hội hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu về an sinh của người dân; phạm vi bao phủ của chính sách an sinh xã hội bị hạn hẹp; tài chính hạn chế và sự phân bố tài chính thiếu hợp lý giữa các chương trình; các công cụ, chính sách thiếu nhạy bén, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tác động của cải cách kinh tế và biến đổi khí hậu.

Thứ sáu, sự tham gia của cơ quan, đoàn thể và xã hội, huy động nguồn lực cho thực hiện chính sách chưa tốt, còn phân tán. Công tác xã hội hóa, huy động sự tham gia đóng góp của khu vực tư nhân còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết tiềm năng tham gia của người dân, doanh nghiệp và các đối tác xã hội.

Nguyên nhân của những thách thức trên, theo các chuyên gia và nhiều nhà quản lý, là do:

- Nhận thức về vai trò của an sinh xã hội ở không ít cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, tổ chức, doanh nghiệp và người dân chưa đúng và chưa đầy đủ, còn coi an sinh xã hội là trách nhiệm riêng của Nhà nước, tư tưởng trông chờ vào Nhà nước, vào Trung ương còn nặng nề.

- Năng lực xây dựng chính sách an sinh xã hội còn hạn chế. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, luật pháp, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách an sinh xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Quản lý nhà nước về an sinh xã hội chưa tốt do quá nhiều chính sách, lại được ban hành ở nhiều giai đoạn khác nhau, áp dụng cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau nên chồng chéo, thiếu tính hệ thống, gây khó khăn cho việc quản lý chính sách an sinh xã hội và đối tượng thụ hưởng các chính sách đó.

- Việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội ở các cấp, nhất là cấp cơ sở còn yếu. Nguồn lực cho thực hiện chính còn hạn hẹp, mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước còn thấp, phân tán, chưa đúng đối tượng; thiếu sự phối hợp, lồng ghép trong việc thực hiện các chính sách; chưa huy động hết sự tham gia từ cộng đồng, thiếu chính sách khuyến khích người dân tự an sinh, người nghèo tự vươn lên thoát nghèo.

Các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội phù hợp với phát triển kinh tế bền vững

Để khắc phục những hạn chế, tồn tại đang đặt ra về hệ thống chính sách an sinh xã hội của Việt Nam hiện nay, trong thời gian tới đây, cần tập trung thực hiện các định hướng, giải pháp như sau:

Thứ nhất, tiếp tục bảo đảm mục tiêu, định hướng an sinh xã hội đến năm 2020.

Bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội, đồng thời phát huy vai trò và trách nhiệm của cá nhân, hộ gia đình, người lao động, doanh nghiệp và cộng đồng theo tinh thần xã hội hóa. Phát triển an sinh xã hội là chính sách cơ bản để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, góp phần quan trọng tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh.

Do vậy, đến năm 2020, cần cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân, bảo đảm cho người dân tiếp cận đến các chính sách việc làm, giảm nghèo, tham gia bảo hiểm xã hội, hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo...), tăng cường các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng của nhân dân.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống lý luận về an sinh xã hội phù hợp bối cảnh của nước vừa bước vào ngưỡng thu nhập trung bình, hội nhập kinh tế, gắn chính sách an sinh xã hội với chính sách phát triển kinh tế phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế. Phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị tham gia, tạo nên nguồn lực to lớn của toàn xã hội vì mục tiêu bảo đảm an sinh cho người dân, đồng thời có cơ chế phát huy sự tham gia của xã hội và người dân trong việc thực hiện.

Thứ ba, hoàn thiện thị trường lao động, kết nối cung cầu lao động; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu việc làm; tăng cường đối thoại lao động, bảo đảm tiêu chuẩn lao động; tăng cường đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động;...

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, các chính sách và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội. Tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách hiện hành về an sinh xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, hệ thống hỗ trợ tích cực... Phối hợp đồng bộ chính sách an sinh xã hội với các chính sách kinh tế - xã hội khác, tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho các đối tượng và vùng đặc thù.

Thứ năm, tăng cường huy động các nguồn lực cho chính sách an sinh xã hội. Tăng chi ngân sách nhà nước về an sinh xã hội đạt mức trung bình khu vực Đông Nam Á (7% GDP) kết hợp với huy động đóng góp của người dân, doanh nghiệp và xã hội cho an sinh xã hội. Khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đa dạng các mô hình an sinh xã hội, các hoạt động từ thiện, tình nguyện dựa vào sự tham gia của cộng đồng (các đoàn thể địa phương, các nhóm sở thích, nghiệp đoàn, gia đình, dòng họ, cá nhân...) trong việc cung cấp các dịch vụ an sinh xã hội, thực hiện các hoạt động nhân đạo, giúp đỡ, chia sẻ rủi ro đối với những nhóm yếu thế, những đối tượng đặc thù. Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm của các nước trong xây dựng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

An sinh xã hội luôn luôn được coi là một trụ cột quan trọng trong phát triển bền vững ở mọi quốc gia hiện nay. Nó vừa là mục tiêu, vừa là kết quả để thực hiện các cải cách, chiến lược phát triển kinh tế. Đối với Việt Nam, mặc dù thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, thì những thách thức đang đặt ra để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và đảm bảo hệ thống an sinh xã hội bền vững, đảm bảo quyền lợi cho mọi người dân là rất quan trọng. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp kinh tế, chính sách xã hội nhằm đảm bảo, hướng tới mục tiêu phát triển hài hoà kinh tế - xã hội là mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016): Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020.

2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015): Báo cáo tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội.

3. Hoàng Văn Cương (2014): Hoàn thiện chính sách thu hẹp bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam, Báo cáo trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

 

HOÀNG VĂN CƯƠNG, PHẠM PHÚ MINH – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư;  PHẠM NHƯ PHƯƠNG – Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương

© Trang tin điện tử Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
Giấy phép thiết lập số: 69/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 30 tháng 6 năm 2016
Cơ quan chủ quản: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội ĐT: 080.44889 Fax: 080.44889 - 080.44887 Email: khucongnghiep@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam" khi phát hành lại thông tin từ website này