Tìm kiếm
Lượt truy cập
Định hướng - chính sách
Cập nhật ngày: 13/06/2017, 2:37 SA - Số lần xem: 336
Tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển*

Tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp năm 2017, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã thay mặt Chính phủ trình bày báo cáo sơ kết tình hình 1 năm thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 (gọi tắt là Nghị quyết số 35).

Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam xin trân trọng đăng tải toàn văn báo cáo do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng trình bày tại Hội nghị.

Kính thưa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc!

Kính thưa các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ!

Thưa các đồng chí Lãnh đạo các Bộ ngành, địa phương!

Đại diện các tổ chức quốc tế, các Hiệp hội doanh nghiệp, đại diện cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước!

Nghị quyết số 35 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp (DN) đến năm 2020 được ban hành tháng 5 năm 2016, đã khẳng định 10 nguyên tắc và 5 nhóm giải pháp cần thực hiện, nhằm mục tiêu Nhà nước kiến tạo; lấy DN là đối tượng phục vụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân và DN khởi nghiệp, tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Theo sự phân công của Chính phủ, tôi xin báo cáo sơ kết một năm tình hình thực hiện Nghị quyết. Báo cáo tập trung đánh giá các kết quả đã đạt được; chỉ ra những điểm hạn chế, nguyên nhân tồn tại; trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp trọng tâm cho năm 2017-2018.

  Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng báo cáo sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 trong Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp năm 2017 - Ảnh: Lê Tiên

Về kết quả đạt được

1. Cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

- Chính phủ đã ban hành 50 nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh, trong đó cắt giảm 24 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, cắt giảm nhiều thủ tục, giấy phép, tạo thuận lợi cho DN [1].

- Chính phủ điện tử được triển khai trong nhiều thủ tục hành chính như thuế, hải quan, đăng ký DN… đảm bảo công khai, minh bạch, tiết kiệm chi phí và phòng chống tiêu cực, tham nhũng.

- 63 tỉnh, thành phố đã ban hành Chương trình hành động; thành lập đường dây nóng, tổ chức đối thoại với nhiều mô hình đa dạng như: Hội nghị “Lắng nghe và đổi mới” của thành phố Hồ Chí Minh; Cà phê doanh nhân (Quảng Ninh, Trà Vinh, An Giang, Sóc Trăng…), khởi nghiệp - doanh nhân (Kon Tum), Bác sỹ doanh nghiệp (Bắc Ninh)…

2. Trong lĩnh vực tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện cân đối vốn, ổn định lãi suất huy động, tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay; đề xuất gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), nông nghiệp công nghệ cao.

3. Thực hiện chủ trương giảm chi phí kinh doanh cho DN

Bộ Tài chính đã ban hành 15 Thông tư điều chỉnh mức thu phí của 29 trạm thu phí. Bộ Giao thông vận tải đã lập tổ công tác liên ngành xem xét, đề xuất tăng cường quản lý, giám sát giá; cắt giảm các khoản phụ thu bất hợp lý đối với hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

4. Thanh tra Chính phủ đã quán triệt và tăng cường công tác thanh tra, xử lý vi phạm theo hướng lồng ghép, phối hợp và kế thừa, thực hiện theo nội dung và nguyên tắc: thanh/kiểm tra không quá 1 lần/năm như đã nêu tại Nghị quyết. Định kỳ hàng quý, tổ chức họp báo công bố kết quả thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng và trả lời câu hỏi mà dư luận quan tâm. Một số địa phương như: Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lào Cai, Quảng Bình, Đắk Lắk, Sóc Trăng… đã ban hành văn bản đôn đốc, hướng dẫn phối hợp công tác thanh tra giữa các đơn vị trực thuộc.

5. Chủ trương khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 35 đã lan tỏa rộng rãi. Hàng trăm sự kiện, cuộc thi khởi nghiệp, lập nghiệp được nhiều tổ chức, địa phương triển khai; gần 30 “không gian làm việc chung” và sáng tạo thuộc khu vực tư nhân được thiết lập; mạng lưới các nhà đầu tư cho khởi nghiệp dần hình thành.

6. Về mở rộng thị trường, cơ hội đầu tư kinh doanh: Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 13 trong lĩnh vực mua sắm công [2], nhằm đẩy mạnh tiêu dùng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước; ban hành Quyết định số 58 thu hẹp các lĩnh vực mà doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nắm giữ [3], tạo thị trường cho khu vực tư nhân tham gia vào các ngành, lĩnh vực quan trọng như: sản xuất, kinh doanh điện, hóa chất cơ bản, thuốc lá, dịch vụ viễn thông, tài chính ngân hàng…

7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV, trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp thứ 3 sắp tới với nhiều chính sách đột phá cho DN; Bộ Tài chính đã dự thảo Nghị quyết tháo gỡ khó khăn về thuế; Bộ Công Thương đang xây dựng đề án phát triển thị trường trong nước… Các Bộ: Công an, Lao động, Thương binh và Xã hội, Khoa học và Công nghệ, Y tế, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tư pháp, Nội vụ, Thông tin và Truyền thông, Giáo dục và Đào tạo, Xây dựng và các địa phương đang triển khai tích cực những nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 35.

Những nỗ lực trên đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam. Riêng năm 2016 đã có hơn 110 nghìn DN thành lập, tăng hơn 16% so với năm 2015, đạt mức kỷ lục từ trước đến nay [4]; hơn 2.600 dự án đầu tư nước ngoài mới, với gần 16 tỷ USD vốn đăng ký, tăng hơn 23% về số dự án so với cùng kỳ. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới năm 2016, Việt Nam đã tăng 9 bậc (từ vị trí 91 lên 82) về chỉ số môi trường kinh doanh. Đánh giá của Eurocham, Amcham, Jetro… cũng cho thấy môi trường kinh doanh của Việt Nam đang tiếp tục được cải thiện; các DN lạc quan về triển vọng kinh doanh tại Việt Nam.

Về một số hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực triển khai như trên, nhưng phản ánh từ cộng đồng DN cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và thực thi. Cụ thể:

1. Về cải cách thủ tục hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh

- Chưa giải quyết triệt để sự không thống nhất giữa các luật: Đầu tư, Bảo vệ môi trường, Đất đai, Xây dựng…dẫn đến vướng mắc trong thực thi [5].

- Thực tế thực hiện liên thông trong giải quyết thủ tục đầu tư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp và các thủ tục khác chưa thông suốt, hiệu quả.

- Vẫn tồn tại tình trạng nhiều cơ quan cùng quản lý một vấn đề, gây khó khăn và gia tăng gánh nặng tuân thủ cho DN (Ví dụ: lĩnh vực an toàn thực phẩm hiện do 3 Bộ: Công Thương, Y tế, Nông nghiệp cùng quản lý theo 3 nghị định khác nhau; giấy phép kiểm dịch do các đơn vị khác nhau trong cùng một Bộ xử lý mà không thống nhất đầu mối).

- Quy định và hướng dẫn về thủ tục thuế và hải quan, phân loại mã số hàng hoá xuất nhập khẩu (mã HS) chưa đủ rõ ràng; thủ tục cấp chứng nhận trong phòng cháy chữa cháy, đo khí thải, chất thải, bảo vệ môi trường; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khoáng sản, tài nguyên… theo phản ánh còn gây nhiều bức xúc cho DN [6].

2. Về tiếp cận đất đai

- Thủ tục giải phóng mặt bằng, giá thuê đất cao cùng các thủ tục cấp phép nêu trên vẫn là vấn đề nan giải với DN. DN, đặc biệt là DNNVV vẫn khó khăn để có mặt bằng sản xuất.

- Việc thu hồi đất, tính giá đất, tính giá đền bù còn phức tạp, chưa sát với thực tế thị trường; thông tin quy hoạch không rõ ràng dẫn đến việc chấp thuận chủ trương đầu tư của DN gặp khó khăn [7].

3. Về mở rộng thị trường, cơ hội đầu tư kinh doanh

- Việc triển khai đấu thầu qua mạng nhằm công khai minh bạch các dự án mua sắm công, tạo cơ hội tham gia của DN chưa đảm bảo lộ trình theo yêu cầu của Chính phủ [8]

- Quản lý nhà nước đối với chất lượng hàng hóa còn lỏng lẻo; hàng giả, hàng kém chất lượng chưa được kiểm soát hiệu quả; hàng rào kỹ thuật chưa phát huy tác dụng… dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép sản xuất trong nước và ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.

- Tiến độ cổ phần hoá các DNNN diễn ra chậm, làm thu hẹp thị trường và cơ hội tham gia cung cấp dịch vụ công của khu vực tư nhân.

4. Về tiếp cận tín dụng, mặc dù Ngân hàng nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại đã có nhiều nỗ lực cải thiện [9], nhưng phản ánh của DN cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn:

- Chỉ có 40% trong tổng số DN đang hoạt động có khả năng tiếp cận vốn vay từ ngân hàng; DNgặp khó khăn trong việc đăng ký tài sản theo Luật đăng ký giao dịch bảo đảm để có cơ sở mang đi thế chấp vay vốn.

- Hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tồn tại rất nhiều vướng mắc; DNNVV hầu như không tiếp cận được vốn qua kênh này.

5. Về giảm chi phí kinh doanh cho DN

Theo phản ánh của cộng đồng DN, chi phí kinh doanh cơ bản còn ở mức cao, nhất là: chi phí vay vốn, logistic, tiền lương, bảo hiểm, chi phí giao dịch, tuân thủ thủ tục:

- Lãi suất bình quân Việt Nam hiện là 7-9%, trong khi Trung Quốc chỉ là 4,3%; Malaysia 4,6%; Hàn Quốc 2-3%; Nhật Bản 0,95%.

- Chi phí vận chuyển một container từ cảng Hải Phòng về Hà Nội đắt gấp 3 lần chi phí vận chuyển từ Hàn Quốc, Trung Quốc về Việt Nam; chi phí tiếp cận điện năng cao gấp 49 lần Philippines; chi phí nộp thuế cao nhất so với ASEAN 4 (39% lợi nhuận làm ra, cao hơn 2 lần Singapore) [10].

- Tốc độ tăng lương tối thiểu thời gian qua từ 8-12%, đem lại lợi ích cho người lao động, nhưng cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động chỉ đạt 4-5%; mức đóng bảo hiểm 22% lương tháng là cao, so với Malaysia chỉ là 13%, Philippines là 10% [11].

-  Chi phí kiểm nghiệm lô hàng trước khi xuất khẩu tăng trung bình từ 1,5-2 lần so với trước đây; thời gian kéo dài từ 7-10 ngày [12].

- Ngoài ra các chi phí không chính thức vẫn là gánh nặng lớn cho DN, đặc biệt trong các thủ tục tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh, tiếp đón thanh tra, kiểm tra, thủ tục cấp giấy phép kinh doanh có điều kiện (66% DN trong Khảo sát PCI năm 2016 xác nhận trả loại phí này).

- Vấn đề nợ đọng xây dựng cơ bản, thanh toán chậm và thủ tục phiền hà đối với các dự án và dịch vụ công do DN cung cấp chưa được giải quyết dứt điểm, ảnh hưởng lớn đến chi phí và rủi ro tài chính của doanh nghiệp.

6. Việc thực hiện thanh tra, kiểm tra ở cấp địa phương còn tồn tại hiện tượng chồng chéo, trùng lắp về nội dung giữa các ngành (công an, môi trường, xây dựng, thuế…), các cấp sở, quận/huyện [13]; còn tồn tại sự thiếu phối hợp giữa ngành thanh tra và ngành kiểm toán, chưa có sự kế thừa các kết luận thanh tra, kiểm tra của các cơ quan.

Đây là nguy cơ hiện hữu dẫn đến rủi ro lớn, thiệt hại về tài sản, gián tiếp tạo thêm gánh nặng chi phí kinh doanh của DN.

7. Năng lực nội tại và ý chí kinh doanh của nhiều DN còn thấp; thể hiện rõ ở quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu; năng lực quản trị hạn chế, dẫn đến năng suất và hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh kém; chủ yếu tham gia ở phân khúc thị trường có giá trị gia tăng thấp. (DN trong lĩnh vực sản xuất chế biến chế tạo chỉ chiếm 16% tổng số DN đang hoạt động [14], còn lại chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, xây dựng, bất động sản). Đây là rào cản lớn nhất hạn chế khả năng tham gia cụm, chuỗi giá trị sản xuất trong nước, khu vực và toàn cầu.

Nhận diện một số nguyên nhân chính

- Nhận thức của người đứng đầu một số Bộ ngành, địa phương về ý nghĩa và tầm quan trọng triển khai Nghị quyết 35 chưa đầy đủ, sâu sắc, dẫn đến việc triển khai Nghị quyết chưa quyết liệt, hiệu quả.

- Còn tồn tại nhiều cán bộ, công chức chưa tự đổi mới tư duy, từ quản lý DN sang lấy DN làm đối tượng phục vụ, chưa theo kịp tinh thần, chủ trương nhà nước kiến tạo; chưa tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc về đạo đức công vụ; thậm chí còn định kiến, phân biệt đối xử, gây khó khăn, nhũng nhiễu; một bộ phận công chức có chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, thiếu thực tế, cứng nhắc trong vận dụng chính sách; chưa giải quyết kịp thời cho DN.

- Sự phối hợp giữa các Bộ ngành, giữa Trung ương và địa phương trong triển khai Nghị quyết còn chưa tốt; chậm giải quyết các vấn đề của DN.

- Vai trò của các hiệp hội DN trong công tác đối thoại với chính quyền còn mờ nhạt; chưa thể hiện rõ là người đại diện để tranh luận, phân tích một cách độc lập, khách quan, kiến nghị đúng và trúng vấn đề, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của DN.

- (Ngoài ra có thể kể đến nguyên nhân nữa là văn hoá phương Đông có thiên hướng ít thay đổi, ngại đổi mới, có tâm lý sợ rủi ro. Đây là rào cản rất lớn cản trở các DN Việt Nam chấp nhận thách thức để bứt phá vươn lên, bắt kịp với xu thế mới của hội nhập và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4).

Thưa các quý vị đại biểu!

Hội nghị Trung ương lần thứ 5 Khoá 12 đã nhấn mạnh nhiệm vụ: “Chăm lo phát triển kinh tế tư nhân nhanh, lành mạnh và đúng đắn hơn, thực sự trở thành động lực quan trọng để giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội”.

Quyết tâm của Chính phủ là thực hiện và hoàn thành được các nhiệm vụ do Đảng và Quốc hội giao. Do vậy, để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của năm 2017 và những năm còn lại của nhiệm kỳ, tinh thần và nội dung của Nghị quyết 35 cần phải được quán triệt và triển khai mạnh mẽ, đồng bộ. Chính phủ cần tập trung thực hiện ngay các giải pháp cụ thể trong năm 2017 và 2018, như sau:

1. Xoá bỏ mọi định kiến, rào cản; cải cách mạnh các thủ tục hành chính

- Tạo điều kiện thuận lợi để DN phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm; khuyến khích các hộ, cá nhân tự nguyện liên kết hình thành DN; hỗ trợ DN đổi mới, sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.

- Các Bộ, ngành khẩn trương rà soát, kiến nghị sửa đổi các quy định về đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý, đảm bảo thống nhất với Luật Đầu tư, Luật DN và các luật liên quan, nhằm đơn giản hóa các điều kiện đầu tư kinh doanh, minh bạch và dễ tuân thủ.

- Đẩy nhanh việc rà soát, đề xuất sửa đổi quy định về các loại thuế, quản lý thuế, hải quan để giảm thiểu thời gian và chi phí tuân thủ; báo cáo Chính phủ Đề án Luật sửa các luật về thuế để trình Quốc hội.

- Các Bộ, ngành rà soát các danh mục hàng hóa thuộc đối tượng quản lý chuyên ngành, bổ sung mã HS, tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với mặt hàng xuất nhập khẩu trong lĩnh vực quản lý.

- Xác định rõ mỗi nhiệm vụ có một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan khác để xử lý (vấn đề an toàn thực phẩm, giấy phép kiểm dịch).

2. Về tiếp cận đất đai: rà soát, kiến nghị sửa đổi bổ sung các quy định liên quan đến thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tính giá thuê đất, chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất và các mức thuế sử dụng đất, nhằm tháo gỡ khó khăn tiếp cận đất đai cho DN; rà soát quy hoạch đảm bảo tính nhất quán và công khai minh bạch thông tin quy hoạch.

3. Về mở rộng thị trường, cơ hội đầu tư kinh doanh

- Khẩn trương hoàn thiện chiến lược tổng thể phát triển thị trường trong nước giai đoạn đến 2025, tầm nhìn đến 2035; chú trọng phát triển hệ thống bán lẻ, thúc đẩy sản xuất và khuyến khích tiêu dùng hàng Việt Nam; xử lý nghiêm và công khai những DN vi phạm pháp luật, buôn lậu, trốn thuế, buôn bán hàng cấm, hàng giả, gian lận thương mại, vi phạm pháp luật về môi trường…

- Các Bộ ngành, địa phương nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 13 của Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực mua sắm công; Quyết định số 58 thu hẹp các lĩnh vực mà DNNN nắm giữ, để tạo thị trường cho khu vực tư nhân tham gia vào các ngành, lĩnh vực quan trọng.

4. Về tiếp cận tín dụng

- Minh bạch quy định, thủ tục, điều kiện vay; rà soát quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm để tạo điều kiện cho DN làm tài sản thế chấp vay vốn tại ngân hàng.

- Triển khai mạnh các hoạt động hỗ trợ DN tăng cường năng lực quản trị, minh bạch tài chính, để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng.

- Đẩy nhanh triển khai hoạt động của Quỹ Phát triển DNNVV, Quỹ bảo lãnh tín dụng tạo kênh hỗ trợ vốn cho DN.

5. Về giảm chi phí kinh doanh cho DN

- Khắc phục ngay các bất cập trong quản lý dự án BOT, mức thu phí, vị trí thu phí; chuyển sang thu phí điện tử không dừng, áp dụng công nghệ phù hợp để giám sát thu phí; đấu thầu công khai trong lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án BOT.

- Có các giải pháp phù hợp để giảm lãi suất; đẩy nhanh xử lý vấn đề nợ đọng xây dựng cơ bản để trả nợ cho DN, đảm bảo hài hoà lợi ích giữa Nhà nước và DN.

6. Kiên trì thực hiện chủ trương thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với một DN không quá một lần trong năm, trong đó lưu ý việc phối hợp thanh tra liên ngành ở cấp địa phương, tập trung trong các lĩnh vực nổi cộm như thuế, kiểm toán, môi trường, phòng cháy chữa cháy, an toàn lao động…

7. Các DN cũng cần chủ động, tích cực hơn nữa trong đổi mới quản lý, quản trị DN; tăng cường liên kết sản xuất, tham gia chuỗi giá trị trong nước, khu vực và thế giới, xây dựng thương hiệu và “chữ tín” trong kinh doanh; chăm lo đào tạo phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ; thực hiện nghiêm quy định của pháp luật, nhất là về trách nhiệm xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Trên cơ sở các nội dung chính nêu trên, đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Chỉ thị nhằm tiếp tục tăng cường triển khai hiệu quả Nghị quyết 35. Yếu tố then chốt là người đứng đầu các Bộ ngành, địa phương phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc tinh thần Nghị quyết 35, chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo thực hiện một cách chủ động, quyết liệt và hiệu quả; cán bộ công chức phải thay đổi tư duy, thái độ, nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ.

Cuối cùng, cho phép tôi được thay mặt Lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư kính chúc sức khỏe tới Thủ tướng Chính phủ, các đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ, đại diện các cơ quan tổ chức ngoại giao, tổ chức quốc tế, các đồng chí Lãnh đạo các Bộ ngành, địa phương, DN trong cả nước.

Chúc cộng đồng DN ngày càng phát triển.

Xin trân trọng cảm ơn./.

 

------------------------------------------------

* Tiêu đề do Ban Biên tập Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam đặt

[1] Theo khảo sát của VCCI, thời gian thành lập DN trung bình tại các địa phương phổ biến là 2 ngày.

[2] Chỉ thị số 13 ngày 4/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án đầu tư phát triển và hoạt động mua sắm thường xuyên sử dụng vốn nhà nước.

[3] Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân loại DNNN, DN có vốn nhà nước và danh mục DNNN thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016-2020.

[4] Số vốn cam kết đưa vào thị trường tăng 48%; số DN  quay trở lại hoạt động tăng 24%. Trong 4 tháng đầu năm có thêm 39.600 DN, với gần 1,2 triệu tỷ đồng bổ sung vào nền kinh tế, luỹ kế có 612 ngàn DN đang hoạt động.

[5] Luật Đầu tư và Luật Bảo về môi trường quy định không thống nhất về (i) đối tượng thực hiện đánh giá tác động môi trường, (ii) hiệu lực của Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Luật Đất đai và Luật Đầu tư quy định không thống nhất về việc thu hồi đất trong trường hợp chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư.

[6] Phản ánh của DN tại báo cáo tổng hợp kiến nghị của VCCI.

[7] Phản ánh của DN tại báo cáo tổng hợp kiến nghị của VCCI.

[8] Tỷ lệ các gói thầu chào hàng cạnh tranh áp dụng đấu thầu qua mạng chiếm 5,7 so với tối thiểu 20% theo quy định, tỷ lệ các gói thầu đấu thầu rộng rãi áp dụng đấu thầu qua mạng chiếm 4,4% so với 10% theo yêu cầu.

[9] 3 tháng đầu năm 2017 tín dụng tăng trưởng 3,14%, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,36%, huy động vốn tăng 3,07% so với cuối năm 2016.

[10] Báo cáo phản ánh kiến nghị DN của VCCI.

[11] Theo Báo cáo khảo sát của Jetro năm 2016.

[12] Theo phản ánh của VASEP.

[13] Có DN phản ánh năm 2016 đã phải tiếp đến 9 đoàn thanh tra, kiểm tra.

[14] Báo cáo của TCTK năm 2015.

© Trang tin điện tử Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
Giấy phép thiết lập số: 69/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 30 tháng 6 năm 2016
Cơ quan chủ quản: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội ĐT: 080.44889 Fax: 080.44889 - 080.44887 Email: khucongnghiep@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam" khi phát hành lại thông tin từ website này