Tìm kiếm
Lượt truy cập
Nghiên cứu - Trao đổi
Cập nhật ngày: 27/06/2017, 2:46 CH - Số lần xem: 975
HOÀN THIỆN THỂ CHẾ, CHÍNH SÁCH: Góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với KCN, KKT

Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP, Nghị định số 114/2015/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV,... là các căn cứ pháp lý quan trọng về quản lý nhà nước trong lĩnh vực KCN, KCX, KKT. Tuy nhiên, thực tiễn quá trình thực hiện các văn bản pháp luật này những năm qua đã bộc lộ một số vướng mắc.

Trong thời gian gần đây, việc sửa đổi, hoàn thiện, kiện toàn các cơ chế, chính sách về KCN, KKT đã được tích cực triển khai nhằm kịp thời đáp ứng những yêu cầu từ thực tiễn phát triển KCN, KKT của đất nước. Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP và Nghị định số 114/2015/NĐ-CP quy định về KCN, KKT đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì nghiên cứu xây dựng, trình Chính phủ.

Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam xin trân trọng đăng tải các ý kiến, tham luận của đại diện Lãnh đạo Ban Quản lý các KCN một số địa phương về thực trạng, những khó khăn, bất cập trong công tác quản lý và những đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với KCN, KKT.

Ông Khúc Văn Lượng - Trưởng ban, Ban Quản lý các KCN tỉnh Thái Bình: Cần khắc phục những hạn chế, bất cập về cơ chế, chính sách

Trong thời gian qua, việc phân cấp, ủy quyền các lĩnh vực về đầu tư, quy hoạch, xây dựng, quản lý doanh nghiệp, quản lý lao động trong các KCN trên địa bàn tỉnh của UBND tỉnh Thái Bình, các sở, ngành và UBND các huyện đối với Ban Quản lý các KCN tỉnh Thái Bình đã tạo thuận lợi cho Ban thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả thiết thực.

Để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Ban Quản lý đã tham mưu với UBND tỉnh Thái Bình và phối hợp với một số cơ quan ban hành các quy chế phối hợp gồm: Quy chế phối hợp quản lý nhà nước tại các KCN trên địa bàn tỉnh; Quy chế phối hợp quản lý an ninh trật tự trong các KCN; Quy chế phối hợp giải quyết đình công không đúng quy định của pháp luật tại các KCN; Quy chế phối hợp quản lý lao động là người nước ngoài tại các KCN; Quy chế phối hợp quản lý quy hoạch xây dựng tại các KCN...

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, theo các Nghị định và Thông tư hướng dẫn, vẫn còn một số nhiệm vụ, lĩnh vực phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý chưa đầy đủ như:

 

 

Ông Khúc Văn Lượng

Về cấp các loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá sản xuất trong KCN: hiện nay, Bộ Công Thương mới uỷ quyền cho một số Ban Quản lý các KCN thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá C/O - mẫu D, nhưng chưa ủy quyền cấp các loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá khác (Mẫu A, E, S, AK...).

Về quản lý thương mại: Ban Quản lý thực hiện thẩm quyền đã được phân cấp theo quy định của Nghị định số 07/2016/NĐ-CP ngày 25/01/2016 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. Hiện nay, Bộ Công Thương đã ủy quyền 03 nội dung cho Ban Quản lý các KCN tỉnh Thái Bình, còn nội dung “Cấp Giấy phép kinh doanh, bổ sung mục tiêu kinh doanh đối với hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCN theo quy định của pháp luật” thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh, Ban Quản lý chưa được ủy quyền.

Về lĩnh vực quản lý môi trường: Ban Quản lý các KCN tỉnh Thái Bình mới được 2/5 huyện, thành phố có KCN trên địa bàn ủy quyền việc xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường; chưa được UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường giao nhiệm vụ và ủy quyền công tác thẩm định trình phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường và thanh tra, kiểm tra về công tác bảo vệ môi trường trong các KCN, mà chỉ thực hiện chức năng đôn đốc, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và tham gia kiểm tra công tác bảo vệ môi trường trong KCN.

Các Nghị định của Chính phủ quy định và điều chỉnh bổ sung quy định về KCN, KCX, KKT và Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV đã xác lập rõ hơn về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý các KCN, tạo ra hành lang pháp lý để Ban Quản lý các KCN chủ động thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực hoạt động của KCN. Tuy nhiên, các quy định trên vẫn còn một số bất cập, cụ thể:

- Ngoài lĩnh vực đầu tư đã được phân cấp cho Ban Quản lý các KCN theo Luật Đầu tư, các nhiệm vụ trong những lĩnh vực khác đều thực hiện theo cơ chế ủy quyền. Cơ chế này dễ gây sự chồng chéo trong thực hiện công tác quản lý nhà nước, làm cho Ban Quản lý các KCN gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ.

- Một số Luật và Nghị định chưa thống nhất với Luật Đầu tư gây khó khăn cho các nhà đầu tư cũng như các Ban Quản lý KCN trong quá trình triển khai thực hiện các thủ tục hành chính trước khi thực hiện dự án.

- Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV đều có đề cập đến vấn đề kiểm tra, giám sát các hoạt động trong KCN theo thẩm quyền. Cụ thể, Ban Quản lý các KCN là đơn vị chủ trì “tổ chức kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền”, song theo Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 và Nghị định  86/2011/NĐ-CP thì Ban Quản lý KCN, KCX, KKT không có bộ phận thanh tra. Như vậy, nhiệm vụ kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền của Ban Quản lý các KCN chủ yếu chỉ nhắc nhở các doanh nghiệp thực hiện và phải phối hợp với các sở, ngành có chức năng thanh tra chuyên ngành để xử lý.

Công nhân làm việc trong nhà máy tại KCN Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình)

Từ thực tiễn quá trình quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn nói trên, Ban Quản lý các KCN tỉnh Thái Bình có một số đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước tại các KCN, KKT như sau:

- Sớm ban hành Nghị định mới thay thế các Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP và Nghị định số 114/2015/NĐ-CP nhằm tạo hành lang pháp lý cho các mô hình KCN mới để tăng tính cạnh tranh trong thu hút đầu tư của các KCN, KKT.

- Ban hành Luật KKT, KCN, KCX, theo đó phân cấp đầy đủ các nhiệm vụ cho Ban Quản lý các KCN, thay thế cho cơ chế ủy quyền như hiện nay.

- Điều chỉnh, sửa đổi Luật Thanh tra theo hướng giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra cho Ban Quản lý các KCN đối với địa bàn KCN.

- Xem xét nội dung quy định về điều kiện thành lập Phòng Quản lý môi trường tại các Ban Quản lý các KCN để tạo sự thống nhất và đảm bảo quản lý toàn diện về công tác bảo vệ môi trường trong KCN của các Ban Quản lý trên phạm vi cả nước. Đồng thời thống nhất phân cấp (hoặc ủy quyền) cho Ban Quản lý các KCN quản lý toàn diện về công tác bảo vệ môi trường trong các KCN.

 

Ông Nguyễn Mạnh Tuấn - Trưởng ban, Ban Quản lý KKT Quảng Ninh: Cần có cơ sở pháp lý “đủ mạnh” để hoạt động quản lý nhà nước về KCN, KKT phát huy được hiệu quả cao nhất

Quảng Ninh là một trong số ít địa phương trên cả nước hiện có đồng thời cả 03 mô hình: KCN, KKT ven biển và KKT cửa khẩu. Theo Danh mục các KCN, KKT ven biển và KKT cửa khẩu dự kiến ưu tiên thành lập mới đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tỉnh Quảng Ninh có 11 KCN, 01 KKT ven biển (KKT Vân Đồn) và 03 KKT cửa khẩu (KKT cửa khẩu Móng Cái, KKT cửa khẩu Hoành Mô - Đồng Văn và KKT cửa khẩu Bắc Phong Sinh).

Trong những năm gần đây, bằng nhiều biện pháp quyết liệt với sự vào cuộc mãnh mẽ của các cấp chính quyền trên toàn tỉnh nói chung và Ban Quản lý KKT Quảng Ninh nói riêng, nguồn vốn đầu tư vào các KCN, KKT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống các KCN, KKT ngày càng phát huy được vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh, thực sự trở thành động lực mạnh mẽ trong việc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tính đến thời điểm hiện tại, các KCN, KKT Quảng Ninh có tổng cộng 237 dự án ngoài ngân sách còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 2.298,75 triệu USD và 49.924,22 tỷ đồng, gồm 57 dự án FDI và 180 dự án đầu tư trong nước.

 

Ông Nguyễn Mạnh Tuấn

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình hoạt động, Ban Quản lý KKT Quảng Ninh cũng đã gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định trong hoạt động quản lý nhà nước do cơ sở pháp lý về hoạt động quản lý nhà nước của các Ban Quản lý đối với các KCN, KKT chưa đủ mạnh, còn bị điều chỉnh bởi các Luật, Nghị định chuyên ngành. Một số nội dung chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật. Mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản lý KKT, KCN được điều chỉnh bởi văn bản dưới Luật (Nghị định số 29/2008/NĐ- CP và Nghị định số 164/2013/NĐ- CP). Theo nội dung các Nghị định này, Ban Quản lý được phân cấp nhiều nhất trên các lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch, đầu tư; đối với các ngành, lĩnh vực khác, Ban Quản lý chưa được hướng dẫn theo ủy quyền nên phạm vi, thẩm quyền còn hẹp và chưa đồng bộ, dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong thực thi nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, Luật Thanh tra và Nghị định hướng dẫn thi hành không quy định thanh tra thuộc Ban Quản lý. Do đó, khi phát hiện vi phạm, Ban Quản lý không thể xử phạt. Điều này làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của Ban Quản lý đối với các KCN, KKT.

Thi công các hạng mục trong KKT Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Trong thời gian tới, để giải quyết triệt để những khó khăn vướng mắc nêu trên, từ đó phát huy hơn nữa vai trò của các KCN, KKT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói chung, Ban Quản lý KKT Quảng Ninh đề nghị cần có Luật riêng về KCN, KKT, KCX, trong đó quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức bộ máy của Ban Quản lý KKT, KCN, đặc biệt là thẩm quyền trong lĩnh vực môi trường, thanh tra để tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong quá trình đầu tư phát triển các KCN, KKT và bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các nội hàm phát triển KCN, KKT hướng tới phát triển bền vững (dự kiến trong luật riêng về KCN, KKT), bao gồm định hướng phát triển vùng (bền vững); ngành nghề thu hút đầu tư; các khu chức năng đảm bảo phát triển đồng bộ trong KCN, KKT… Theo đó, cần có những nghiên cứu sâu hơn về các mô hình phát triển mới, trong đó xác định cụ thể về các tiêu chí phát triển các KCN, KKT bền vững và đưa vào trong quy định của Luật. Đối với những KCN, KKT hiện có không đáp ứng được các tiêu chí này cần phải xây dựng lộ trình cụ thể và các biện pháp để chuyển đổi các KCN, KKT đảm bảo các tiêu chí về phát triển bền vững đã được Luật hóa. Đặc biệt cần có những cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp cải tiến công nghệ và dây chuyền sản xuất đảm bảo sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp hướng tới phát triển bền vững.

 

Ông Nguyễn Văn Thi - Trưởng ban, Ban Quản lý KKT Nghi Sơn và các KCN tỉnh Thanh Hóa: Hoàn thiện mô hình quản lý nhà nước đối với các KCN, KKT

Để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đối với các KCN, KKT ở Việt Nam, ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh những đột phá về cơ chế chính sách thu hút đầu tư, quản lý hiệu quả quy hoạch phát triển các KKT theo hướng đầu tư có trọng điểm, thì mô hình tổ chức, quản lý các KCN, KKT cần được nghiên cứu, kiện toàn để hoạt động thật sự hiệu lực, hiệu quả hơn.

Những năm qua, bên cạnh những văn bản pháp luật chuyên ngành, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về KCN, KCX, KKT; Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, Nghị định số 114/2015/NĐ-CP ngày 9/11/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phát triển các KCN, KKT. Các Nghị định đã quy định khá rõ ràng, đầy đủ trách nhiệm của Bộ, ngành Trung ương, UBND cấp tỉnh, thành phố và Ban Quản lý KKT, KCN trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với KCN, KKT trên nhiều lĩnh vực: quy hoạch, đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường, lao động, thương mại, hải quan… Đồng thời, Nghị định cũng đã thể hiện rõ chủ trương tăng cường phân cấp, ủy quyền trên các lĩnh vực quản lý nhà nước của các cơ quan Trung ương, UBND cấp tỉnh cho Ban Quản lý KKT, KCN; chuẩn hóa và hoàn thiện mô hình quản lý KKT, KCN, KCX theo nguyên tắc “một cửa, tại chỗ” thông qua vai trò đầu mối tại Ban Quản lý KKT, KCN trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ đã được phân cấp, ủy quyền.

 

Ông Nguyễn Văn Thi

Trên cơ sở quy định tại các Nghị định, các Bộ, ngành đã ban hành các Thông tư và văn bản hướng dẫn, nâng cao hiệu lực pháp lý của các Nghị định. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện những Nghị định này trong thời gian qua đã xuất hiện những khó khăn, vướng mắc cần phải được tháo gỡ để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của KKT, KCN.

Về tổ chức bộ máy: Theo quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP về cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế của Ban Quản lý thì “Ban Quản lý KKT và Ban Quản lý KCN, KCX xếp hạng I theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ được phép thành lập Thanh tra”. Tuy nhiên, tại Thông tư Liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 03/9/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các KCN, KCX, KKT thì không có bộ phận Thanh tra. Hơn nữa, theo Luật Thanh tra và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì Thanh tra Ban Quản lý các KCN, KKT không thuộc hệ thống các cơ quan thanh tra chuyên ngành. Do đó, Thanh tra Ban Quản lý không có thẩm quyền xử lý vi phạm của các doanh nghiệp trong KCN, KKT. Các quy định nêu trên dẫn đến việc thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp trong KCN, KKT chồng chéo bởi nhiều ngành, nhiều cấp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.

Về phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý KKT, KCN: Việc triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý các KKT, KCN theo quy định của Nghị định 29/2008/NĐ-CP, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV chưa được thực hiện triệt để. Một số nội dung chưa được ủy quyền, còn chồng chéo với các sở, ngành, làm hạn chế quyền hạn và tính chủ động của Ban Quản lý trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Nguyên nhân chủ yếu do chưa có sự thống nhất trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về việc phân cấp, ủy quyền thực hiện nhiệm vụ trong các KKT, KCN; khung pháp lý quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản lý KKT, KCN chỉ quy định trong các Nghị định, thấp hơn các Luật chuyên ngành (Luật Đất đai, Luật Xây dựng,…), do đó khi triển khai thực hiện tại các địa phương còn lúng túng, thiếu đồng nhất.

Việc các Ban Quản lý KKT, KCN đề nghị ủy quyền ở một số lĩnh vực gặp khó khăn do văn bản luật chuyên ngành đưa ra thêm điều kiện về năng lực, cơ cấu tổ chức để có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, cụ thể trong lĩnh vực quản lý đầu tư, xây dựng, môi trường, đất đai,... Do đó, chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong thực hiện các thủ tục hành chính, cũng như gây khó khăn cho công tác quản lý, giám sát việc chấp hành các quy định pháp luật của doanh nghiệp.

Để tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính gắn với đẩy mạnh phân cấp giữa Chính phủ với chính quyền địa phương, tổ chức tốt cơ chế “một cửa, tại chỗ” trong các KCN, KKT, nâng cao hiệu quả hoạt động của các KKT, KCN, Ban Quản lý KKT Nghi Sơn và các KCN tỉnh Thanh Hóa cho rằng cần nghiên cứu và thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện về mặt thể chế, quy hoạch tổng thể bảo đảm tính thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong các ngành, lĩnh vực đối với quản lý KKT, KCN.

Để thực hiện giải pháp này, cần nghiên cứu xây dựng Luật về KKT, KCN. Theo đó, xác định rõ loại hình cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp đối với KKT, KCN, gắn với việc hoàn thiện đồng bộ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan này; đảm bảo KKT và các KCN được quản lý bởi một đầu mối thống nhất, phù hợp với vai trò và tầm quan trọng của hệ thống các KCN, KKT trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ hai, rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển các KKT kèm theo cơ chế chính sách đủ mạnh, nhằm xây dựng các KKT trở thành các trung tâm phát triển kinh tế với môi trường cạnh tranh tốt nhất để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước (phải xác định cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế), do đó phải đầu tư có chọn lọc và trọng tâm theo đúng quy hoạch các KKT trọng tâm, trọng điểm đến năm 2020, tránh việc đầu tư tràn lan, lãng phí vốn và kém hiệu quả.

Thứ ba, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức quản lý KKT, KCN.

Đây là giải pháp mang tính cải cách hành chính, bảo đảm xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực trong phạm vi KKT, KCN, đặc biệt là xác định rõ thẩm quyền của Ban Quản lý KKT, KCN. Trong đó, cần tập trung chuyển mạnh các nhiệm vụ đang thực hiện theo cơ chế phân cấp, ủy quyền thành giao nhiệm vụ thường xuyên cho Ban Quản lý KKT, KCN phù hợp với chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KKT, KCN, để thực hiện có hiệu quả cơ chế “một cửa tại chỗ” đối với hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư, phát triển và cung ứng dịch vụ công trong KKT, KCN.

Thứ tư, xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối với các KKT, KCN, đặc biệt là phối hợp với chính quyền địa phương nơi có KKT.

Trong thực tế, việc phối hợp với chính quyền địa phương nơi có KKT là rất quan trọng, vì liên quan đến hầu hết các hoạt động: giải phóng mặt bằng, quản lý quy hoạch, xây dựng, quản lý lao động, an ninh trật tự, đất đai, tài nguyên, môi trường… Song hiện nay, vấn đề này cũng đang có nhiều bất cập do chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng giữa chính quyền địa phương và các Ban Quản lý KKT. Vì vậy, ngoài việc hoàn thiện về thể chế, chính sách và xác định rõ thẩm quyền của từng cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực đối với các hoạt động trong KKT, cần thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả với chính quyền địa phương để xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thực sự thông thoáng và hấp dẫn.

Thứ năm, hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý các KKT, KCN phù hợp với định hướng quy hoạch phát triển các KKT, KCN trên cả nước.

Khi các KKT, KCN đã được quy hoạch theo định hướng phát triển có trọng tâm, trọng điểm, được tổ chức và hoạt động theo khung pháp lý thống nhất với cơ chế, chính sách đặc thù thì mô hình tổ chức, quản lý cần được hoàn thiện cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tế đòi hỏi. Hiện nay, mô hình quản lý nhà nước đối với KKT, KCN ở các địa phương không giống nhau, nên cần phải có một mô hình chuẩn để đối chiếu và áp dụng.

 

Ông Nguyễn Hồng Sơn - Trưởng ban, Ban Quản lý các KCN tỉnh Tuyên Quang: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước tại các KCN

Sau khi Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX, KKT, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý KCN, KCX, KKT có hiệu lực thi hành, Ban Quản lý các KCN tỉnh Tuyên Quang đã xây dựng Đề án quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Ban Quản lý, trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức triển khai, áp dụng thực hiện theo đúng quy định. Qua đó, các KCN của tỉnh liên tục phát triển và đạt được kết quả nhất định; chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Ban Quản lý ngày càng hoàn thiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao; hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư, môi trường thu hút đầu tư các KCN của tỉnh được cải thiện; các quy trình, thủ tục hành chính về thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước đối với KCN được thực hiện, giải quyết kịp thời, đúng quy định; các nhà đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện dự án đã được hỗ trợ tích cực, rút ngắn đáng kể thời gian thực hiện các thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

 

Ông Nguyễn Hồng Sơn

Bên cạnh đó, Ban Quản lý các KCN tỉnh Tuyên Quang cũng tăng cường công tác quản lý nhà nước về các mặt: bảo vệ môi trường; quản lý lao động; quản lý quy hoạch và xây dựng; đầu tư kết cấu hạ tầng; quản lý các dự án đầu tư kinh doanh và hiệu quả hoạt động của các đơn vị, doanh nghiệp tại KCN.

Đồng thời, Ban tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành tăng cường công tác tư vấn, hướng dẫn các nhà đầu tư vào tỉnh; tư vấn, hướng dẫn và thẩm định các dự án đăng ký đầu tư vào KCN; đặc biệt quan tâm ưu tiên thu hút các dự án có quy mô lớn, công nghệ cao, các tập đoàn kinh tế có tiềm lực tài chính, đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước...

Nghị định số 29/2008/NĐ-CP và Nghị định số 164/2013/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở Luật Đầu tư (2005), Luật Doanh nghiệp (2005) và một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Nhưng đến nay, các cơ sở để xây dựng Nghị định số 29/2008/NĐ-CP và Nghị định số 164/2013/NĐ-CP nêu trên đã được thay thế và sửa đổi, bổ sung. Vì vậy, một số nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Quản lý chưa được chỉnh sửa, bổ sung đầy đủ, phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành. Cụ thể như: Luật Đầu tư (2014) đã sửa đổi, bổ sung thêm thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư; Điều 27, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư quy định: nhà đầu tư phải ký quỹ để bảo đảm thực hiện dự án và được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đăng ký đầu tư và nhà đầu tư; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã thay thủ tục Cam kết bảo vệ môi trường  bằng thủ tục Kế hoạch bảo vệ môi trường...

Do đó, Ban Quản lý các KCN tỉnh Tuyên Quang đề xuất cần sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định về KCN, KKT như sau:

- Giao cho Ban Quản lý các KCN, KKT trực tiếp thực hiện chế độ một cửa, một đầu mối, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư.

- Rà soát, chỉnh sửa, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Quản lý các KCN, KKT phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.

- Thống nhất chung cơ cấu tổ chức bộ máy các phòng, đơn vị trực thuộc và biên chế của Ban Quản lý đảm bảo quản lý kịp sự phát triển của các KCN.

- Duy trì Phòng Thanh tra đối với các Ban Quản lý được xếp hạng 1 và bổ sung chức năng thanh tra cho Ban Quản lý KCN, KKT, tạo điều kiện để Ban Quản lý chủ động trong việc xử lý các vi phạm của doanh nghiệp trong KCN, KKT.

- Tiếp tục tăng cường phân cấp, giao nhiệm vụ trực tiếp từ Trung ương tới địa phương, gắn chặt với cơ chế phân công trách nhiệm và phối hợp rõ ràng, minh bạch giữa các cơ quan Trung ương và địa phương. Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước ở cấp Trung ương và địa phương đảm bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý các KCN, KKT theo hướng một cửa, một đầu mối và tương xứng với vai trò, vị trí ngày càng quan trọng của các KCN, KKT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

© Trang tin điện tử Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
Giấy phép thiết lập số: 69/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 30 tháng 6 năm 2016
Cơ quan chủ quản: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội ĐT: 080.44889 Fax: 080.44889 - 080.44887 Email: khucongnghiep@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam" khi phát hành lại thông tin từ website này