Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu, nhu cầu tiêu dùng trong nước và nước ngoài giảm sút, sản xuất công nghiệp tăng trưởng chậm, một bộ phận người lao động thiếu việc làm …
Ngay từ đầu năm, Chính phủ kịp thời đề ra nhiều giải pháp, thực hiện những chính sách khuyến khích kinh tế, kích cầu tiêu dùng và đầu tư, ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; các ngành, địa phương và doanh nghiệp đã nỗ lực tập trung thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường…. Nhờ đó, ngành công nghiệp đã từng bước lấy lại đà tăng trưởng, trong những tháng cuối năm. Quý I sản xuất công nghiệp chỉ tăng 2,7% sau đó giá trị sản xuất công nghiệp liên tục đạt mức tăng khá, bảo đảm cả năm tăng 7,6% so với năm 2008. Trong đó, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 9,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,1%. Tương ứng với mức tăng giá trị sản xuất, tốc độ giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp đạt khoảng 3,8%. Một số sản phẩm đạt mức tăng trưởng cả năm cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành là: điều hòa nhiệt độ (tăng 41,8%) khí hóa lỏng - LPG (39,3%), tủ lạnh, tủ đá, (29,5%) xà phòng giặt (20,2%) xi măng (19,2%) thép tròn các loại (19,5%) điện sản xuất (11,9%) than đá (9,9%) dầu thô khai thác (9,8%) giầy dép (9,6%)…
Nhiều công trình trọng điểm, dự án nhóm A đầu tư sản xuất công nghiệp, xây dựng và mở rộng sản xuất trong các khu kinh tế, KCN đã đi vào hoạt động trong năm, góp phần nâng cao năng lực mới của ngành như những nhà máy thủy điện, tổ máy nhiệt điện Ô Môn, nhiệt điện Hải Phòng 1, nhiệt điện Nhơn Trạch 1, nhà máy lọc dầu Dung Quất, Dự án phân DAP Đình Vũ (Hải Phòng) …
Năm 2009, cùng với năng lực sản xuất công nghiệp của các KKT, KCN tăng so với năm trước, nhiều tỉnh, thành phố là trung tâm công nghiệp tại các vùng kinh tế trọng điểm cũng đã đạt mức tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp cao hơn mức bình quân toàn ngành như Đồng Nai, Bình Định, Khánh Hòa, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hải Phòng...
Tuy nhiên, ngành công nghiệp còn bộc lộ một số mặt yếu kém. Đó là giá trị gia tăng của ngành cả về tốc độ và chất lượng tăng trưởng đều thấp; giá trị, vật tư, phụ tùng, phụ liệu nhập khẩu để sản xuất nhiều loại sản phẩm gia công (hoặc lắp ráp) chiếm tỷ trọng cao, tỷ lệ nội địa hóa thấp, năng suất tổng hợp của nhiều ngành còn thấp hơn so với các nước trong khu vực; sức cạnh tranh của những sản phẩm chế biến còn kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu (năm 2008, có 45% trong số 91 tập đoàn tổng công ty nhà nước có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10%, trong đó 3,3% đơn vị thua lỗ). Doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ để sản xuất sản phẩm chế biến sâu... Hoạt động của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực nông thôn, làng nghề còn gặp không ít khó khăn ... Nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất công nghiệp còn chậm; mô hình tăng trưởng trong công nghiệp hiện vẫn hướng theo số lượng.
Năm 2010, dự báo kinh tế thế giới chưa hồi phục vững chắc, tiếp tục còn diễn biến phức tạp. Những vấn đề hậu khủng hoảng, như xu hướng tăng bảo hộ mâu dịch, biến động giá cả, khan hiếm nguyên liệu, năng lượng ... có thể xảy ra. Trong nước, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp còn thấp. Mặc dù vậy cũng cần nhận rõ, năm 2010, sản xuất công nghiệp cũng có nhiều yếu tố thuận lợi: nhiều cơ chế chính sách mới ban hành đã đi vào cuộc sống, năng lực đầu tư từ doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài của mấy năm qua được đẩy mạnh, nên một số ngành, lĩnh vực đã có thêm nguồn lực phát triển, môi trường đầu tư, kinh doanh dần được cải thiện, thị trường cũng có nhiều khả năng mở rộng cho sản xuất và xuất khẩu.
Trên cơ sở đánh giá toàn diện khó khăn và thuận lợi trong năm tới, ngành công nghiệp phấn đấu thực hiện mục tiêu kế hoạch năm 2010 là: giá trị sản xuất công nghiệp tăng 12% so với năm 2009. Giá trị gia tăng toàn ngành công nghiệp tăng khoảng 6% so với thực hiện năm 2009 (công nghiệp và xây dựng năm trước tăng khoảng 7%). Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hơn 6%. Tiếp tục bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu góp phần kiềm chế tăng chỉ số giá tiêu dùng dưới 7%.
Để đạt mục tiêu trên, yêu cầu cơ bản, có tính chiến lược là phải thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế, cơ cấu lại hợp lý sản xuất nội bộ ngành công nghiệp. Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XII, trong báo cáo trình Quốc hội, Chính phủ đã xác định: “Khẩn trương xây dựng đề án và thực hiện một bước tái cấu trúc nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng:
Tái cấu trúc nền kinh tế mà nội dung chủ yếu là chủ động tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn liền với cơ cấu lại hợp lý các ngành sản xuất, tổ chức lại sản xuất doanh nghiệp, và điều chỉnh chiến lược thị trường, phù hợp với quá trình hoàn thiện thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với điều kiện thực tiễn và hội nhập phát triển ở nước ta. Đó là một vấn đề lớn phải đựơc thực hiện liên tục, lâu dài, có sự phát triển nhịp nhàng, đồng bộ giữa các ngành; giữa ngành với vùng lãnh thổ; giữa các cân đối vĩ mô, giữa các nguồn lực nội sinh với tăng cường hợp tác nước ngoài ... Quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất công nghiệp cũng phải tuân thủ những yêu cầu chung trong chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế như đã xác định.
Mục tiêu cuối cùng cơ cấu lại sản xuất hợp lý và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững, hiệu quả là tăng nhanh năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của các ngành sản xuất, của doanh nghiệp và từng sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng, nâng cao quy mô giá trị gia tăng. Tuy nhiên, đây là quá trình vận động chuyển đổi liên tục, tích cực từ thấp đến cao gắn với thực tế phát triển của ngành và doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Đối với nền kinh tế nước ta, điểm xuất phát hiện còn thấp, quy mô và trình độ sản xuất công nghiệp chưa tương xứng với yêu cầu phát triển…Vì vậy, chưa thể ngay lập tức từ bỏ việc phát triển theo “chiều rộng” (đối với nền kinh tế cũng như từng ngành sản xuất) để chuyển hẳn sang phát triển theo “chiều sâu”, mà phải có sự kết hợp hài hòa, có bước chuyển dịch khẩn trương nhưng phải phù hợp với yêu cầu, khả năng thực tế. Do đó, trong những năm tới, cả nền kinh tế, nhất là cơ cấu sản xuất công nghiệp phải chủ động xác lập mô hình tăng trưởng hợp lý, bền vững theo hướng tăng quy mô, tốc độ cao, đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, gắn với điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo ngành, theo lĩnh vực kết hợp với bố trí lại cơ cấu sản xuất theo vùng lãnh thổ.
Để tổ chức lại sản xuất công nghiệp theo định hướng trên đây, nhất thiết phải phát huy vai trò quản lý của Nhà nước, sử dụng các công cụ điều tiết hợp lý bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho các ngành sản xuất, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đẩy mạnh đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh. Việc tháo gỡ khó khăn, huy động các nguồn lực cho đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu là yếu tố quyết định nhất, là khâu trung tâm của sự phát triển bền vững. Trong đó, phát triển công nghiệp từ chỗ chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên khoáng sản và lắp ráp gia công sang các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến những sản phẩm có hàm lượng chế biến sâu, có trình độ kỹ thuật công nghiệp cao, có giá trị gia tăng cao; từ chú trọng ưu tiên cho xuất khẩu sang vừa coi trọng xuất khẩu, vừa kết hợp phát triển, khai thác có hiệu quả thị trường nội địa. Đây cũng chính là quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng: tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và nguồn nhân lực chất lượng thấp sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, chủ yếu dựa vào các nhân tố năng suất tổng hợp như khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ năng sản xuất hiện đại, qua đó mà nâng cao mức đóng góp của các yếu tố này vào tăng trưởng.
Cùng với vai trò điều tiết của Nhà nước, cơ cấu lại các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả những doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực công nghiệp nông thôn, các làng nghề; đặc biệt các doanh nghiệp nhà nước có vị trí quan trọng đi đầu trong quá trình tổ chức lại sản xuất của ngành. Qua quá trình sắp xếp, đổi mới, nhìn chung doanh nghiệp nhà nước đã thích ứng được và có bước phát triển khá trong kinh tế thị trường, hiệu quả sản xuất từng bước được nâng lên, thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò chủ đạo của mình. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực và lợi thế sẵn có. Vì vậy, trong thời gian tới các doanh nghiệp, nhất là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cần có biện pháp đồng bộ, để phát huy mặt tích cực và khắc phục những yếu kém, tổ chức lại hợp lý sản xuất kinh doanh thích hợp trong từng doanh nghiệp, cơ cấu lại tài chính, bổ sung nguồn lực, đầu tư đổi mới công nghệ, tăng cường quản trị kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất … phấn đấu xây dựng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước ngày càng vững mạnh trên cơ sở đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, gắn liền với mô hình tổ chức và mô hình quản trị mới, tạo nên hiệu quả tổng hợp và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Trong quá trình tổ chức lại sản xuất, cùng với việc xác lập phương án sản xuất sản phẩm phù hợp với lợi thế, với nhu cầu thị trường các ngành và doanh nghiệp cần gắn với yêu cầu ổn định, phát triển nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào (nguyên liệu, vật tư, phụ liệu...), nguồn lao động đáp ứng theo nhu cầu sản xuất. Tùy theo đặc điểm, điều kiện sản xuất của từng ngành, các doanh nghiệp (cả hiệp hội ngành hàng) cần chủ động phát huy năng lực sản xuất, xây dựng mối liên kết chặt chẽ với cơ sở nguyên liệu (vùng nguyên liệu tập trung) như khu vực khai thác nuôi thủy sản; sản xuất các loại nông sản dùng cho chế biến (mía, đường, bông, cao su...) nhằm chủ động bảo đảm nguồn vật tư nguyên liệu bền vững, đồng thời ngày càng giảm nguồn vật tư và nhiều loại hàng nông sản phải nhập khẩu (trên 60% bông vải và nhiều loại phụ liệu năm 2009 còn phải nhập khẩu với giá trị hơn 7 tỷ USD; bột giấy và giấy, đường, thức ăn chăn nuôi vẫn còn phải nhập khẩu với khối lượng nhất định...) Do đó, để nâng cao giá trị gia tăng trong nước của sản phẩm công nghiệp chế biến, cần chú trọng xây dựng vững chắc cơ sở nguyên liệu, hình thành đồng bộ hệ thống công nghiệp phụ trợ trong các ngành sản xuất.
Tổ chức lại sản xuất công nghiệp phải gắn với điều kiện điều chỉnh chiến lược thị trường, trong đó vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa chú trọng phát triển thị trường trong nước.
Đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu trên cơ sở cơ cấu lại các nhóm hàng hóa nhằm cải thiện cán cân thương mại góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.
Năm 2010, cùng với đẩy mạnh xuất khẩu, việc tiếp tục củng cố, mở rộng và phát triển thị trường trong nước được coi là động lực thúc đẩy sản xuất, phấn đấu để ngày càng có nhiều hàng hóa Việt Nam chiếm lĩnh thị trường trong nước, cạnh tranh với hàng nhập khẩu và nâng cao giá trị gia tăng.
Thị trường nước ta vốn có dung lượng, tiềm năng lớn, vấn đề quan trọng là các ngành hàng, doanh nghiệp, cần tiếp tục sắp xếp lại sản xuất, chú trọng giảm chi phí trung gian, chăm lo đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh; đáp ứng thị hiếu theo đối tượng người tiêu dùng, nhất là nhu cầu của người dân nông thôn. Cần phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở sản xuất với tổ chức hệ thống lưu thông, các kênh phân phối hợp lý và rộng khắp cùng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.
Đi đôi với tổ chức sản xuất theo ngành, trong năm 2010 cũng cần có sự điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản xuất không gian phân bố công nghiệp trong KKT, KCN.
Những năm vừa qua, nhiều KCN ở vùng kinh tế trọng điểm đã thu hút được nhiều dự án đầu tư, sử dụng kín diện tích đất công nghiệp sẵn có. Tổng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp KCN tăng đều hàng năm và chiếm trên 60% giá trị sản xuất của toàn ngành, trong đó giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp, chiếm trên 40% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp toàn ngành. Tuy nhiên, do cơ cấu đầu tư và sản xuất của các doanh nghiệp chưa hợp lý tình trạng xây dựng và phát triển một số KCN vừa qua kém hiệu quả, diện tích thành lập mới và mở rộng vượt quá nhu cầu; chậm thu hút đầu tư do tiến độ xây dựng hạ tầng kéo dài; chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng và cả một số nhà đầu tư đã đăng ký dự án nhưng không đủ năng lực thực hiện... Từ đó diện tích đất ở một số địa phương đã quy hoạch nhưng vẫn chưa được sử dụng, bỏ lãng phí. Không ít những dự án đầu tư đã hoạt động trong KCN thường có trình độ kỹ thuật trung bình hoặc thuộc loại hình doanh nghiệp thâm dụng lao động, thậm chí có KCN thành lập cả năm mà chưa có mặt bằng để xây dựng hạ tầng, hoặc có hạ tầng, mà chưa thu hút được nhà đầu tư,… Từ đó, hiệu quả đầu tư, hiệu quả sản xuất kinh doanh của KCN chưa tương xứng với yêu cầu, với mục tiêu phát triển.
Vì vậy, trong thời gian tới cũng cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển, điều chỉnh cơ cấu đầu tư phù hợp với nhu cầu thực tế. Trước hết, việc xây dựng mở rộng diện tích KCN mới cần tuân thủ quy định chung (với điều kiện của các KCN, tính trong phạm vi một địa phương đã có các dự án hoạt động hoặc cho thuê trên 60% diện tích hiện có). Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật ở những KCN đang xây dựng dở dang có khả năng thu hút đầu tư. Tập trung tháo gỡ khó khăn tạo cho nhà đầu tư nhanh chóng thực hiện dự án đã đăng ký (hỗ trợ việc giải phóng mặt bằng, giao đất “sạch” theo yêu cầu xây dựng nhà xưởng, đồng thời, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, lựa chọn và kêu gọi các dự án công nghệ cao (thông tin, điện tử, cơ khí chính xác …), công nghiệp phụ trợ (sản xuất nguyên liệu, phụ liệu và phụ tùng, linh kiện thay thế nhập khẩu …) tạo dựng những tổ hợp công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao. Khuyến khích các doanh nghiệp đang hoạt động tăng vốn để đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất. Vận động các nhà đầu tư nước ngoài có năng lực làm chủ đầu tư xây dựng hoàn chỉnh và kinh doanh kết cấu hạ tầng hiện đại KCN. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp KCN nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng nhanh tổng giá trị sản xuất, tổng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp ngày càng cao giá trị gia tăng của KCN.