Trong thời gian qua, sự phát triển của các khu công nghiệp và khu chế xuất đã có những tác động tích cực đến sự phát triển chung của Thành phố
Tính đến 30/06/2009, 3 khu chế xuất và 10 khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh có 1.161 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4,49 tỉ USD, trong đó đầu tư nước ngoài 466 dự án, vốn đầu tư là 2,64 tỷ USD; đầu tư trong nước 695 dự án, vốn đầu tư 27.753,66 tỷ đồng, tương đương 1,85 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu tính đến nay trên 17 tỉ USD với các thị trường chủ yếu là Mỹ, Nhật Bản, châu Âu và Đài Loan; sản phẩm xuất đi trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đồng thời thu hút 245.300 lao động. Dĩ nhiên, đối với sự phát triển của khu công nghiệp và khu chế xuất thì có rất nhiều vấn đề đáng quan tâm và cần giải quyết; tuy nhiên, với yêu cầu của một thành phố đang phát triển thì yêu cầu về việc cần phải tổ chức lao động và sản xuất ở một trình độ cao hơn trở thành vấn đề thiết yếu nhất. Theo nghiên cứu khảo sát của Sở Khoa học Công nghệ TP.HCM thì tỉ lệ doanh nghiệp có trình độ công nghệ chiến từ 60%-70%, cao hơn khá nhiều so với tỉ lệ này của các doanh nghiệp ở ngoài khu công nghiệp và khu chế xuất. Bài viết này được thực hiện nhằm mục tiêu chính là hoạch định các chiến lược nhằm nâng cao năng lực sản xuất và trình độ công nghệ của các khu công nghiệp và khu chế xuất TP.HCM. Và công cụ được sử dụng ở đây là ma trận SWOT, một công cụ được phát minh ban đầu nhằm hoạch định chiến lược phát triển trong các doanh nghiệp, nhưng dần dần đã được sử dụng có hiệu quả trong phân tích kinh tế vĩ mô.
I. Ma trận SWOT là gì
Ma trận SWOT là ma trận kết hợp giữa phân tích và dự báo bên trong với bên ngoài. Ma trận này không đưa ra những mô hình chiến lược cụ thể, nhưng nó có tác dụng nêu ra những định hướng chiến lược rất quan trọng với doanh nghiệp, ngành hoặc lĩnh vực. Cách xây dựng ma trận thuận chiều với tiếp cận từ bên trong, có nghĩa là điểm khởi đầu của ma trận sẽ được bắt đầu bằng S (điểm mạnh) và W (điểm yếu), rồi mới đến các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài, cụ thể là O (thời cơ) và T (đe doạ). Qua đó chúng ta có 4 cặp kết hợp từng đôi một như sau: S và O, S và T;W và O, W và T. Đây là cách kết hợp thuần tuý của các yếu tố bên trong và bên ngoài. Hơn nữa, trong mỗi cách kết hợp lại bắt đầu bằng điểm mạnh trước, điểm yếu sau đối với các yếu tố bên trong, còn với các yếu tố môi trường bên ngoài thì lại là cơ hội trước và đe doạ sau. Ma trận SWOT được thiết lập dựa trên việc đánh giá những điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và mối đe dọa (Threats) đối với đối tượng nghiên cứu. Để thiết lập được ma trận SWOT, cần thực hiện theo các bước sau :
- Liệt kê các cơ hội chính
- Liệt kê các mối đe dọa từ bên ngoài
- Liệt kê những điểm mạnh chủ yếu
- Liệt kê những điểm yếu cơ bản bên trong tổ chức
- Kết hợp điểm mạnh bên trong và cơ hội bên ngoài để đề xuất chiến lược SO (chiến lược phát huy thế mạnh để tận dụng cơ hội)
- Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài để đề xuất chiến lược WO (chiến lược khắc phục điểm yếu bằng cách tận dụng cơ hội).
- Kết hợp điểm mạnh bên trong với mối đe dọa bên ngoài để đề xuất chiến lược ST (chiến lược tận dụng thế mạnh để đối phó với nguy cơ từ bên ngoài)
- Kết hợp điểm yếu bên trong với đe dọa bên ngoài để đề xuất chiến lược tối thiểu hóa tác dụng của điểm yếu và phòng thủ trước các mối đe dọa.
Ma trận SWOT có cơ cấu dưới dạng
Ma trận SWOT Cơ hội (Opportunities) Đe dọa (Threat)
Điểm mạnh (Strengths) Chiến lược SO Chiến lược ST
Điểm yếu (Weaknesses) Chiến lược WO Chiến lược WT
Đáng lưu ý là: Mục đích của ma trận SWOT là giúp các nhà hoạch định chiến lược đề ra những biện pháp chiến lược khả thi có thể chọn lựa chứ không giúp lựa chọn hay quyết định chiến lược nào là tốt nhất.
Các hạn chế của phương pháp phân tích ma trận SWOT là:
Không chỉ ra được cách để đạt được lợi thế cạnh tranh; các phân tích là tĩnh tại một thời điểm nhất định; có thể dẫn đến việc quá nhấn mạnh vào một hay vài yếu tố nội tại hoặc ngoại tác để xác lập các chiến lược.
Ngược lại với cách tư duy thuận chiều trên là cách tiếp cận ngược chiều của ma trận kết hợp phân tích và phán đoán bên ngoài và bên trong. Khi đó, ma trận này sẽ được đảo lại là TOWS. Bản chất rất quan trọng của chiến lược phát triển là tạo ra lợi thế cạnh tranh, giành vị thế trên thị trường so với đối thủ cạnh tranh. Xuất phát từ ý tưởng đó, cách tư duy ngược chiều này có tính thuyết phục hơn đối với các nhà thực hành chiến lược. Theo đó, ma trận sẽ được bắt đầu bằng môi trường bên ngoài trước và đi từ thách thức, đe doạ trước rồi mới đến thời cơ, tức là cặp kết hợp TO; tiếp đến mới là các kết hợp của các yếu tố bên trong WS. Sự kết hợp này cũng sẽ bắt đầu bằng điểm yếu trước rồi mới đến điểm mạnh sau.
Ma trận TOWS là cách tiếp cận ngược và thực tiễn, nhưng không nên tuyệt đối hoá nó để thậm chí phủ định cách tiếp cận của ma trận SWOT, một cách tiếp cận truyền thống đã được nghiên cứu và vận dụng từ lâu. Bởi lẽ, không có thời cơ và nguy cơ tuyệt đối, hay nói cách khác, thời cơ có thể biến thành nguy cơ, đe doạ nếu doanh nghiệp không tận dụng được nó và ngược lại, từ nguy cơ có thể chuyển thành cơ hội nếu doanh nghiệp có những đối sách hợp lý.
Ma trận SWOT tuy ban đầu được phát minh bởi một số nhà nghiên cứu như Marion Dosher, Otis Benepe, Albert Humphrey,…nhằm hoạch định các chiến lược cấp doanh nghiệp và công ty. Mặc dù vậy, từng bước công cụ này này được sử dụng trong việc phân tích và hoạch định các chính sách và chiến lược ở cấp vĩ mô và đã tỏ ra khá hữu hiệu.
II. Tình hình phát triển các khu công nghiệp và khu chế xuất đến năm 2009
Tính đến nay, trên địa bàn toàn thành phố có 15 KCN được thành lập bao gồm: 13 KCN đang hoạt động với tổng diện tích đất quy hoạch là 2.435,74 ha, trong đó diện tích đất đã đền bù chiếm 94% diện tích đất đã quy hoạch và 2 KCN đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản đó là KCN Phong Phú và KCN Hiệp Phước giai đoạn 2, có tổng diện tích đất quy hoạch là 799,6 ha, đã đền bù được 50% tổng diện tích đất quy hoạch. ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho hoạt động của các doanh nghiệp trong các KCN toàn thành phố giảm sút, công tác xúc tiến thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Khắc phục những ảnh hưởng đó hầu hết các KCN trên toàn thành phố tích cực đẩy nhanh tiến độ lấp đầy quỹ đất, hoàn chỉnh hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCX, KCN (dự án lắp đặt đường ống dẫn nước, thoát nước; hệ thống chiếu sáng công cộng, mở rộng và nâng cấp đường và cầu dẫn vào KCX, KCN).
Tuy nhiên, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa bàn thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước. Số dự án có vốn đầu tư nước ngoài của thành phố chiếm 1/3 tổng số dự án của cả nước, tính đến hết tháng 6, BQL các KCX&CN thành phố đã cấp mới cho 5 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 3,9 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn cho 18 lượt dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 45,33 triệu USD. Các dự án được cấp mới có quy mô vốn nhỏ, tập trung vào các lĩnh vực điện tử (sản xuất các loại dây điện, dây cáp điện, đồ điện gia dụng... có quy mô 10 triệu sản phẩm/năm); dịch vụ (2 dự án); cơ khí chính xác (1 dự án) và nhựa (1 dự án).
Về đầu tư trong nước, có 12 dự án mới với tổng vốn đăng ký 888 tỷ đồng giảm 70% so với cùng kỳ năm 2008 và 18 dự án điều chỉnh trong đó điều chỉnh tăng vốn có 7 dự án với tổng vốn điều chỉnh tăng 120,6 tỷ đồng, giảm 86% so với cùng kỳ năm 2008. Các dự án được cấp mới hoạt động trong các ngành nghề sản xuất phần mềm tin học, ngành bao bì, cơ khí, dược, dịch vụ, chế biến thủy hải sản và sản xuất thuốc lá.
Lũy kế đến 30/6/2009, tại các KCX, KCN thành phố HCM có 1.161 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký 4,49 tỷ USD. Trong đó, đầu tư nước ngoài 466 dự án, vốn đầu tư đăng ký 2,64 tỷ USD; đầu tư trong nước 695 dự án, vốn đầu tư đăng ký 27.753,66 tỷ đồng. Suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến nền kinh tế của Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, trong những tháng đầu năm 2009, tình hình thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước tại các KCX, KCN của thành phố HCM giảm sút so với cùng kỳ năm 2008, do các nhà đầu tư không mạnh dạn đầu tư vì gặp khó khăn về vốn và thị trường tiêu thụ. Song trong những tháng gần đây bằng sự nỗ lực trong các mặt hoạt động của BQL hỗ trợ cho doanh nghiệp về nhiều mặt như giãn, gia hạn nộp thuế, hỗ trợ lao động bị m t việc làm do suy giảm kinh tế; cải thiện thủ tục về hải quan; thu thập nhu cầu vốn và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp để hỗ trợ trong thời gian tới (tính đến hết tháng 6 đã có 58 doanh nghiệp tại các KCX, KCN được vay với mức hỗ trợ lãi vay 4%/năm, tổng dư nợ trên 1.112,42 tỷ đồng).