Tính đến 22/10/09, cả nước có 10.805 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 174,7 tỷ USD. Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút Đầu tư nước ngoài lớn nhất chiếm 62,1% số dự án và 50,6% vốn đăng ký tại Việt Nam
1. Tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đến tháng 10 năm 2009
Tính đến 22/10/09, cả nước có 10.805 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 174,7 tỷ USD. Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút Đầu tư nước ngoài lớn nhất chiếm 62,1% số dự án và 50,6% vốn đăng ký tại Việt Nam. Đầu tư vào kinh doanh bất động sản đang gia tăng mạnh mẽ trong 2 năm trở lại đây với việc ban hành Luật Kinh doanh bất động sản và đổi mới chính sách đất đai, đưa lĩnh vực kinh doanh bất động sản trở thành là lĩnh vực đứng thứ 2 trong thu hút ĐTNN với 312 dự án, tổng vốn đăng ký 38,4 tỷ USD, chiếm 2,9% số dự án và 22% tổng vốn đăng ký tại Việt Nam. Tiếp theo là các lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống, xây dựng, thông tin và truyền thông, nghệ thuật và giải trí...
Đến nay, 89 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư tại Việt Nam, trong đó Đài Loan là nhà đầu tư số 1 với 2.010 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 21,28 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ 2 với 2.283 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 20,4 tỷ USD. Tiếp theo là nhà đầu tư Malaysia, Nhật Bản và Singapore.
ĐTNN đã có mặt ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó thành phố Hồ Chí Minh vẫn là nơi thu hút nhiều nhà ĐTNN nhất là với 3.092 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký 27,1 tỷ USD, chiếm 28,6% tổng số dự án và 15,5% tổng vốn đăng ký cả nước. Bà Rịa-Vũng Tàu đang vương lên rất sát với thành phố Hồ Chí Minh với quy mô vốn đăng ký 23,5 tỷ USD, chiếm 13,5% tổng vốn đăng ký của cả nước. Tiếp theo lần lượt là Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Ninh Thuận, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Phú Yên.
Xét theo vùng thì Đông Nam Bộ với 4 tỉnh, thành phố luôn trong nhóm 10 tỉnh dẫn đầu về thu hút ĐTNN và là vùng thu hút tới 61% tổng số dự án và 52,7% tổng vốn đăng ký trên toàn quốc. Tiếp theo là Đồng bằng Sông Hồng mà dẫn đầu là Hà Nội chiếm 24,6% tổng số dự án và 18,3% tổng vốn đăng ký của cả nước.
Tây Bắc là vùng có ít ĐTNN nhất, chỉ chiếm 0,4% số dự án và 0,1% tổng vốn đăng ký.
Theo báo cáo nhận được, trong 10 tháng đầu năm 2009 cả nước có 658 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 14,05 tỷ USD. Tuy chỉ bằng 21,7% so với cùng kỳ năm 2008 nhưng 14,05 tỷ USD đăng ký mới cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay.
Trong 10 tháng đầu năm 2009, có 179 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,87 tỷ USD, bằng 95,2% so với cùng kỳ năm 2008.
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 10 tháng đầu năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 18,926 tỷ USD, bằng 27,1% so với cùng kỳ năm 2008.
Theo lĩnh vực đầu tư thì dịch vụ lưu trú và ăn uống vẫn là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với trên 8,7 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Trong đó, có 26 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 7 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD. Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 5,67 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Đây là lĩnh vực có sự gia tăng đột biến so với các tháng đầu năm do trong tháng 9 và tháng 10 có hai dự án lớn được cấp phép, dự án Khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam và dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai có tổng voosnd dầu tư lần lượt là 4,15 và 2 tỷ USD. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực thế mạnh của các nhà ĐTNN, có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong 10 tháng đầu năm 2009 với 2,65 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,03 tỷ USD đăng ký mới và 611 triệu USD vốn tăng thêm.
Theo đối tác đầu tư thì trong 10 tháng đầu năm 2009, có 40 Quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư lướn nh t lần lượt là Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký là 8,1 tỷ USD chiếm 4,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, Cayma Islands đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD CHIếM 10,7%, đứng thứ 3 là Samoa với tổng vốn đăng ký là 1,7 tỷ USD chiếm 9%.
Theo địa bàn đầu tư thì Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong 10 tháng đầu năm 2009 với 6,66 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Tp Hồ Chí Minh với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,46 tỷ USD; 2,28 tỷ USD và 1,23 tỷ USD.
Tình hình thực hiện của khu vực FDI 10 tháng đầu năm 2009
Vốn thực hiện
Trong 10 tháng đầu năm 2009, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 8 tỷ USD, bằng 87,9% so với cùng kỳ năm 2008. So với mục tiêu giải ngân 10 tỷ USD năm 2009, nhìn chung các dự án ĐTNN đang triển khai phù hợp với tiến độ dự kiến. Trong bối cảnh suy giảm đáng kể FDI tại các nước tiếp nhận trên thế giới, FDI vào Việt Nam tuy có sụt giảm nhưng mức sụt giảm ít hơn các nước trong khu vực và so với dự kiến giải ngân từ đầu năm thì tiến độ giải ngân này là phù hợp.
Xuất nhập khẩu
Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) 10 tháng đầu năm đạt 24,2 tỷ USD, bằng 82% so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm 52,2% tổng xuất khẩu cả nước. Nếu không tính dầu thô, khu vực ĐTNN xuất khẩu 18,8 tỷ USD, chiếm 40,6% tổng xuất khẩu và bằng 93,8% so với cùng kỳ năm 2008. Sự suy giảm giá trị kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI chủ yếu ở giá trị kim ngạch xuất khẩu dầu thô, ước đạt 3,3 tỷ USD, giảm tới 41,5% so với cùng kỳ chủ yếu do giá dầu giảm.
Nhập khẩu của khu vực ĐTNN 10 tháng đầu năm đạt 19,96 tỷ USD, bằng 93,8% so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm 36,2% tổng nhập khẩu cả nước. Trong 10 tháng đầu năm 2009, mặc dù các nền kinh tế đối tác chịu tác động nặng nề của suy thoái kinh tế dẫn tới nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm nhưng khu vực ĐTNN vẫn thể hiện tính năng động hơn khu vực trong nước với mức suy giảm xuất khẩu thấp hơn mức suy giảm của khu vực trong nước. Trong 10 tháng đầu năm, khu vực ĐTNN xuất siêu 4,2 tỷ USD, trong khi cả nước nhập siêu 8,7 tỷ USD.
2. Dự kiến tình hình thu hút và thực hiện vốn ĐTNN năm 2009 và 2010
Dự kiến tình hình ĐTNN năm 2009
Theo tổng hợp số liệu từ các địa phương, ước vốn thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp khoảng 7,3 tỷ USD, trong đó phía nước ngoài khoảng 6,6 tỷ USD; của các dự án dầu khí ngoài khơi khoảng 4,6 tỷ USD, trong đó của bên nước ngoài khoảng 3,3 tỷ USD. Như vậy, nếu từ số liệu báo cáo của các địa phượng và tập đoàn dầu khí Việt Nam, dự kiến vốn thực hiện năm 2009 khoảng 9-10 tỷ USD, trong đó từ nước ngoài dự kiến 8-9 tỷ USD.
Về vốn đăng ký, đến tháng 10-2009, vốn đăng ký mới và tăng thêm đã đạt 18,9 tỷ USD. Ước đến cuối năm 2009, vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm có khả năng đạt khoảng 20-22 tỷ USD.
Dự kiến năm 2010
Với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, Chính phủ tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5-7% năm 2010, huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 39,6% GDP. Chủ trương đối với khu vực ĐTNN là tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết, có định hướng thu hút vào các vùng một cách hợp lý, vào các lĩnh vực ưu tiên. Dự kiến các chỉ tiêu chủ yếu về ĐTNN như sau:
- Về thu hút vốn đầu tư vào (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) đạt từ 22-25 tỷ USD, tăng 10% so với ước thực hiện năm 2009 với trọng tâm là thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh. Trong đó, vốn đăng ký mới dự kiến khoảng 19 tỷ USD và vốn tăng thêm dự kiến khoảng 3 tỷ USD..
- Vốn thực hiện năm 2010 dự kiến sẽ tăng hơn năm 2009 do dòng vốn đăng ký của các năm trước đều ở mức cao và trong điều kiện nền kinh tế thế giới có xu hướng phục hồi. Dự kiến vốn thực hiện sẽ đạt ở mức 10-11 tỷ USD, tăng 10% so với ước thực hiện năm 2009, trong đó, vốn của phía nước ngoài dự kiến là 8-9 tỷ USD, tăng 12,5% so với ước thực hiện năm 2009.
3. Định hướng và các giải pháp huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới
Định hướng thu hút ĐTNN
Thu hút đầu tư nước ngoài sẽ có chọn lọc vào các lĩnh vực quan trọng: công nghệ cao; công nghiệp phụ trợ; phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực; chế biến nông sản, phát triển các vùng khó khăn, nông nghiệp và nông thôn; sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng; các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; các ngành có tỷ trọng xuất khẩu lớn; các ngành có ý nghĩa về an sinh xã hội (khám chữa bệnh, công nghiệp dược và vac-xin, sản phẩm), bảo đảm môi trường và an ninh quốc gia,...
Các quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, xây dựng, kinh doanh và các văn bản pháp luật chuyên ngành phải được rà soát, thống nhất đồng bộ; hệ thống các quy định về điều kiện đầu tư và kinh doanh chuyên ngành phải được xây dựng đầy đủ và công bố công khai nhằm minh bạch hóa các tiêu chuẩn, điều kiện tiếp cận thị trường, điều kiện tiến hành sản xuất, kinh doanh; cơ chế hậu kiểm, giám sát, quản lý đối với dự án ĐTNN theo Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP phải được xây dựng và ban hành để tạo cơ sở cho các cơ quan quản lý nhà nước thực thi chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát.
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được quy định và điều chỉnh trong một văn bản quy phạm pháp luật cấp đạo luật, nhằm tránh tình trạng mất cân đối, cấp phép tràn lan, gây dư thừa, lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp trong bối cảnh việc cấp phép và quản lý đầu tư đã được phân cấp về các địa phương.
Các yếu tố về điều kiện cơ sở hạ tầng gây cản trở tới hoạt động ĐTNN cần được tập trung giải quyết như: hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào, hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển; sự ổn định về cung cấp năng lượng, công tác giải phóng mặt bằng,...
Tập trung giải quyết các khó khăn về nguồn nhân lực phục vụ các dự án ĐTNN có quy mô lớn, đặc biệt là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo; sự lạc hậu trong chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đào tạo, trường nghề; phòng ngừa và giải quyết các tranh chấp lao động nhằm hạn chế các cuộc định công có thể xảy ra.
Công tác xúc tiến đầu tư cần được đổi mới, nâng cao chất lượng và cần được điều điều chỉnh bằng một văn bản quy phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho công tác quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện hoạt động này.
Công tác quản lý nhà nước cần phối hợp giữa các cơ quan trung ương, giữa trung ương và địa phương cần được tăng cường, gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cơ quan. Xây dựng cơ chế báo cáo để tổng hợp thông tin kịp thời, đánh giá tình hình nhằm đề xuất các giải pháp điều hành của Chính phủ có hiệu quả.
Các giải pháp thực hiện
Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách
- Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầut ư và kinh doanh.
- Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực; phát triển đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật (cấp thoát nước, môi trường đô thị,...) phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho người có thu nhập thấp; xây dựng công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hóa, thể thao) cho người lao động làm việc trong các KCN, KCX, KCNC, KKT; các dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.
- Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân; không cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu, dự án tác động xấu đến môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất, kể cả đất KCN. Tiến hành rà soát các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn cả nước để có hướng xử lý đối với từng loại dự án.
Nhóm giải pháp về quy hoạch
- Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch ngành và các sản phẩm chủ yếu; rà soát điều chỉnh cho phù hợp và kịp thời đối với các quy hoạch đã lạc hậu; có kế hoạch cụ thể để thực hiện các quy hoạch đã được duyệt.
- Công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm ra, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả, nhất là đối với các địa phương ven biển nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững.
- Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định của Luật Đầu tư trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với các cam kết quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Những giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng
- Tiến hành tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải .v.v); hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế là đường sắt cao tốc Bắc - Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung quốc, đường sắt nối các cụm cảng biển lớn, các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin.
- Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần để tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện...
- Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết của ta với WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu về văn hóa-y tế-giáo dục, bưu chính, viễn thông, hàng hải, hàng không.
Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực
- Đẩy nhanh việc triển khai kế hoạch tổng thể về đào tạo nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào năm 2010. Theo đó, ngoài việc nâng cấp đầu tư hệ thống các trường đào tạo nghề hiện có lên ngang tầm khu vực và thế giới, sẽ phát triển thêm các trường đào tạo nghề và trung tâm đào tạo từ các nguồn vốn khác nhau.
- Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động vào thực tế cuộc sống để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh hóa quan hệ lao động theo tinh thần của Bộ luật Lao động.
Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước
- Phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài.
- Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý ĐTNN; nâng cao năng lực thực thi và hiệu quả quản lý nhà nước về ĐTNN của các cơ quan chức năng.
- Tiến hành tổng kết, đánh giá việc phân cấp trong quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN trong thời gian qua, phát hiện những bất cập, kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.
Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư
- Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận đông, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như các quốc gian thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản,...; chú trọng và đẩy nhanh tiến độ đàm phán các Hiệp định đầu tư song phương giữ Việt Nam và các đối tác lớn.
- Hoàn thành việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án đối với danh mục đầu tư quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2010 để làm cơ sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư; xây dựng danh mục gọi vốn ĐTNN cho giai đoạn 2011-2015 và những năm tiếp theo.
- Tổ chức khảo sát, nghiên cứu và xây dựng mô hình cơ quan xúc tiến đầu tư ở Trung ương và địa phương; xây dựng văn bản pháp quy về công tác Xúc tiến đầu tư nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất trong công tác quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư.
- Thực hiện tốt Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007-2010. Triển khai nhanh việc thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm. Tiếp tục kết hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư trong các chuyến thăm và làm việc tại các nước của lãnh đạo cấp.
- Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư.
Một số giải pháp khác
Tập trung chỉ đạo quyết liệt để thực hiện thành công Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá cải cách hành chính cảu Chính phủ từ nay đến hết năm 2010 để tiếp tục thu hút ĐTNN.
Thực hiện hiệu quả chương trình sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản giai đoạn III; tiếp tục hợp tác tích cực với các cơ quan, tổ chức nước ngoài trong việc XTĐT và hỗ trợ doanh nghiệp triển khai dự án.
Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành với các nhà đầu tư, đặc biệt là Diễn đàn doanh nghiệp hàng năm để xử lý kịp thời khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách và phát luật hiện hành, đảm bảo các dự án hoạt động hiệu quả, nhằm tiếp tục củng cố lòng tin của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, tạo hiệu ứng lan tỏa và tác động tích cực tới nhà đầu tư mới.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: theo chức năng và nhiệm vụ của mình, Thanh tra Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của chính sach, pháp luật về ĐTNN nói chung và việc thực hiện Nghị quyết này của Chính phủ.