Tìm kiếm
Lượt truy cập
Kinh nghiệm thực tiễn
Cập nhật ngày: 04/01/2014, 9:58 SA - Số lần xem: 1304
Các KCN tỉnh Long An: 15 năm đầu tư và phát triển

Việc hình thành và phát triển các KCN là hạt nhân và động lực phát triển của tỉnh Long An; đã và đang tạo ra bước đột phá trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành các trung tâm kinh tế gắn với phát triển đô thị, giải quyết việc làm, các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường bền vững; đồng thời kéo theo sự phát triển các loại hình dịch vụ, đáp ứng nhu cầu hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN và cộng đồng dân cư.

Với vị trí địa lý cận kề và dễ dàng tiếp cận với các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, nguồn lao động, dịch vụ phát triển và thị trường tiêu thụ rộng lớn của Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), cùng với hệ thống giao thông thủy bộ liên vùng thuận lợi nối liền miền Đông Nam Bộ với Đồng bằng Sông Cửu Long, Long An có nhiều lợi thế so sánh để phát triển công nghiệp. Lợi thế này được kích thích sau khi Long An gia nhập vào Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam của cả nước. Theo số liệu thống kê, Long An đang ở vị trí trong nhóm 5 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước về phát triển KCN.

Vào những năm 1996 - 1997, Long An vẫn là tỉnh nông nghiệp, GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 4 triệu đồng; công nghiệp phát triển ở mức thấp, đầu tư phân tán, quy mô nhỏ lẻ, nằm kề các tuyến giao thông chính và xen lẫn dân cư. Để tạo bước đột phá, Long An xác định mục tiêu: đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quy mô và trình độ ngày càng cao hơn; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp và xúc tiến việc thành lập các khu, cụm công nghiệp.

Năm 1997, hai KCN đầu tiên của Long An được Chính phủ phê duyệt là Đức Hòa 1 và Đức Hòa 2 (nay là KCN Xuyên á) với quy mô 470 ha, mở ra hướng đi mới trong đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất công nghiệp. Đây là mô hình thể hiện tính chuyên nghiệp cao trong quản lý quy hoạch, sắp xếp tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và có điều kiện tốt hơn trong hoạt động xuất - nhập khẩu trước xu thế hội nhập kinh tế và giao thương quốc tế đang từng bước phát triển.

Dưới áp lực phát triển đô thị và công nghiệp tại TPHCM và nguy cơ thiếu hụt lao động tại các KCN của tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, từ năm 2000 làn sóng đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN đã tràn về tỉnh Long An. Cho đến nay, đã có 39 nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng kỹ thuật tại 28 KCN đều đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển với tổng diện tích đất sử dụng 10.216,16 ha.

Kết quả nổi bật

Bắt đầu từ những bước đi chập chững ngay khi cuộc khủng hoảng tài chính châu á bùng phát năm 1997, đến nay Long An đã đi qua chặng đường 15 năm đầu tư và phát triển KCN để trở thành tỉnh có cơ cấu kinh tế không còn thuần nông với GDP bình quân đầu người đạt 36,6 triệu đồng.

Tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch.

Trong 28 KCN được quy hoạch có 23 KCN đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư kết cấu hạ tầng với tổng vốn đầu tư là 24.037,96 tỷ đồng và 77,06 triệu USD; trong đó hiện có 16 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích 3.996,43 ha. Các KCN này đã thu hút được 769 dự án đầu tư; thuê lại (kể cả mở rộng) 1.235,79 ha đất và 413.466 m2 nhà xưởng xây sẵn; trong đó có 253 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.712,563 triệu USD và 516 dự án vốn đầu tư trong nước (DDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 27.827 tỷ đồng.

Hiện có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào các KCN tại Long An, chiếm tỷ trọng 64% trong tổng vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh vào các KCN trong tỉnh. 06 quốc gia, vùng lãnh thổ đang đứng đầu danh sách về tổng vốn đầu tư là Vương quốc Anh; Đài Loan; Nhật Bản; Singapore; Hàn Quốc và Hoa Kỳ. 03 quốc gia, vùng lãnh thổ đứng đầu về số dự án đầu tư là Nhật Bản với 57 dự án, Đài Loan với 51 dự án và Hàn Quốc với 35 dự án.

Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án FDI đạt 2,7 triệu USD/dự án và bình quân vốn đầu tư trên một ha đất thuê khoảng 1,4 triệu USD. Năm quốc gia đứng đầu về quy mô vốn đầu tư theo diện tích lần lượt là Singapore, Hoa Kỳ, Belize, Philippines, Indonesia. Đối với các dự án DDI thì quy mô vốn đầu tư theo dự án là 53 tỷ đồng và quy mô vốn đầu tư theo diện tích (ha) là 34 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện của các dự án FDI đến hết năm 2013 là 776 triệu USD, đạt 47%. Vốn đầu tư thực hiện của các dự án DDI ước khoảng 8.747 tỷ đồng, đạt 33%.

Giải quyết việc làm và đào tạo nguồn nhân lực.

Chỉ với 45% số dự án đăng ký đi vào hoạt động tại các KCN trong tỉnh đã thu hút trên 68 ngàn lao động, trong đó lao động ngành may mặc, giày da, túi xách chiếm 69%; lao động có trình độ đại học, cao đẳng chiếm gần 5%, lao động đã qua đào tạo nghề chiếm 85% (khoảng 50% là lao động phổ thông được đào tạo nghề tại doanh nghiệp), số lao động ngoài tỉnh chiếm 30%. Hàng năm, khi các doanh nghiệp đi vào hoạt động và mở rộng sản xuất, thì nhu cầu cần tuyển lao động tăng thêm khoảng 10 ngàn người. Dự kiến, đến giai đoạn 2015 - 2020, nếu diện tích các KCN hiện có lấp đầy, thì cần khoảng trên 400 ngàn lao động. Bên cạnh đó, hiện có 75 doanh nghiệp sử dụng lao động là người nước ngoài với tổng số lao động là 928 người.

Bình quân một dự án đầu tư vào các KCN tại tỉnh Long An cần 206 lao động trực tiếp, một ha đất công nghiệp tại các KCN đã cho thuê thu hút được trên 55 lao động trực tiếp làm việc; đồng thời, cũng tạo thêm nhiều việc làm gián tiếp, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, cung ứng vật liệu và dịch vụ, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng phi nông nghiệp.

Phát triển các KCN đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động, từ lao động lĩnh vực nông nghiệp ở nông thôn chuyển sang làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tại KCN. Thông qua yêu cầu đáp ứng nguồn nhân lực cho các dự án đầu tư, người lao động sẽ có cơ hội được đào tạo nghề, học hỏi, tiếp thu khoa học - công nghệ, rèn luyện kỹ năng, kỷ luật lao động và năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Cùng với sự phát triển của KCN, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của Long An qua thực tiễn cũng được nâng tầm quản lý lên một mức phù hợp về ngoại ngữ, chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa giao tiếp… đáp ứng yêu cầu đổi mới năng động của các doanh nghiệp.

Đẩy mạnh công nghiệp xây dựng, thúc đẩy xuất khẩu.

Cho đến nay, tại các KCN tỉnh Long An, 54% khối lượng diện tích sàn xây dựng công trình có giấy phép xây dựng với tổng diện tích 1.942.486 m2 đã đưa vào sử dụng; có 330 doanh nghiệp đi vào hoạt động (trong đó, 139 doanh nghiệp FDI đã tạo ra giá trị xuất khẩu 428 triệu USD, với xuất siêu 198 triệu USD, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 5%, tiêu thụ nội địa 385 triệu USD, đóng góp vào ngân sách nhà nước 13 triệu USD; 191 dự án DDI tạo ra giá trị xuất khẩu 1.069 tỷ đồng và đóng góp vào ngân sách nhà nước 264 tỷ đồng). Mặc dù tỷ lệ số dự án đã đăng ký đi vào hoạt động chỉ đạt được ở mức khiêm tốn (45%) nhưng với thành quả gặt hái được qua 15 năm hoạt động cho thấy tương lai đầy tiềm năng và chiều hướng tăng trưởng luôn là chủ yếu.

Biểu đồ 1: Tăng trưởng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa của các doanh nghiệp tại các KCN tỉnh Long An.

Gắn phát triển công nghiệp theo qui hoạch với việc bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển nhanh và phát triển bền vững.

Với mô hình sản xuất tập trung, các KCN luôn có điều kiện thuận lợi hơn trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường. Tất cả các dự án trước khi được cấp phép xây dựng đều đã hoàn tất các quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp đang hoạt động trong các KCN đều tách rời toàn bộ hệ thống thoát nước mưa, nước thải và đấu nối đúng quy định vào hệ thống thoát nước của KCN và có hệ thống xử lý nước thải cục bộ trước khi đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải tập trung của KCN đúng theo quy định. Hiện nay, có 11/16 KCN đi vào hoạt động đã đưa hệ thống xử lý nước thải tập trung vào hoạt động chính thức; trong đó có 4 nhà máy xử lý nước thải tập trung đã lắp đặt và vận hành hệ thống quan trắc tự động; tỷ lệ KCN đi vào hoạt động có nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt 69%; tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp không nguy hại ước tính đạt khoảng 80- 90%; tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp nguy hại ước tính đạt khoảng 90%; tỷ lệ phân loại rác tại nguồn của các doanh nghiệp trong KCN ước tính đạt khoảng 70%.

Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 6/2013 tỉnh Long An dẫn đầu trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long về phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư vào các KCN và đang ở vị trí trong nhóm 5 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước về phát triển KCN.

Trong tiếp nhận đầu tư, Ban Quản lý KKT đã sáng tạo quy định việc tiếp nhận phải qua bước sàng lọc ban đầu về môi trường và xây dựng thông qua quy trình đăng ký cho chủ trương đầu tư ngay trước khi nhà đầu tư thực hiện các thủ tục đầu tư tiếp theo. Toàn bộ các thủ tục hành chính của Ban trong các lĩnh vực như về đầu tư, xây dựng, môi trường, lao động và các lĩnh vực khác đều được công bố công khai trên trang web của Ban. Các bộ phận nghiệp vụ đã rút ngắn thời gian xử lý các công việc khoảng 30% về thời gian theo quy định. Có thể nói sáng tạo này là thành công của Ban quản lý KKT Long An trong công tác cải cách thủ tục hành chính.

Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, quá trình phát triển các KCN tại Long An còn có một số vấn đề bất cập, chậm được khắc phục như: chất lượng quy hoạch chưa tốt; phát triển quá nhanh về số lượng; đầu tư phát triển còn dàn trải; cơ cấu đầu tư vào KCN còn bất hợp lý; tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp chưa cao; chưa khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường; nhà ở, thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động chưa được đảm bảo; việc quản lý KCN theo cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ”, hành lang pháp lý cho sự phát triển các KCN còn nhiều bất cập, mâu thuẫn; phân cấp tổ chức quản lý KCN giữa trung ương địa phương chưa thật rõ ràng, còn chồng chéo, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, dẫn đến sự phát triển không đồng bộ, mang tính tự phát; sự liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong vùng chưa tốt, thiếu sự chỉ đạo điều phối phát triển cả vùng có thực quyền.

Bài học kinh nghiệm

Đánh giá lại quá trình 15 năm đầu tư, xây dựng và phát triển các KCN của tỉnh Long An, một số bài học kinh nghiệm bước đầu đã được rút ra như sau:

Việc lựa chọn vị trí quy hoạch xây dựng KCN phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện: gần đầu mối giao thông như các tuyến đường quốc lộ, bến cảng, sân bay, khu vực được cung cấp đủ và ổn định điện, nước, hệ thống thông tin…; gần các vùng nguyên vật liệu địa phương; gần vùng dân cư tập trung để có nguồn cung cấp lao động, nhất là lao động có tay nghề thích hợp và giảm chi phí đi lại; không nên xây dựng KCN ở những khu vực kinh tế quá kém phát triển và có kết cấu hạ tầng quá yếu kém, vì việc xây dựng mới và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng rất khó khăn, đòi hỏi thời gian dài, nguồn vốn lớn, kỹ thuật công nghệ cao...

Thời điểm để xây dựng KCN cần phải đúng thời cơ, thích hợp với tình hình phát triển chung của khu vực. Đối với Long An, thời điểm bắt đầu từ năm 2000 khi áp lực phát triển đô thị và công nghiệp tại TPHCM và nguy cơ thiếu hụt lao động tại các KCN của tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, đồng thời cùng với việc Chính phủ quyết định cho Long An gia nhập vào Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam của cả nước đã tạo ra làn sóng đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN tại Long An.

Đặc biệt, cần có chính sách cụ thể, linh hoạt trên cơ sở đảm bảo lợi ích thoả đáng cho các bên trong việc thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho KCN vì thu hồi đất và giải phóng mặt bằng cho KCN hiện nay được coi là khâu mấu chốt quyết định sự thành công của các KCN và là khâu có nhiều khó khăn nhất được ghi nhận trong thời gian qua vì các cơ chế chính sách liên quan đến thu hồi đất và bồi thường giải toả còn nhiều bất cập, chính sách tái định cư không được chú trọng đúng mức, dẫn đến người dân không ủng hộ, đôi khi dẫn đến bất hợp tác, cản trở việc triển khai dự án KCN, ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững KCN. Ngoài ra, cũng cần nhận thức tốt vai trò quan trọng của chính quyền địa phương trong tổ chức đền bù, giải toả, bố trí vốn ngân sách hỗ trợ, hoặc hỗ trợ được vay vốn ưu đãi để triển khai công tác giải phóng mặt bằng KCN, giúp việc đền bù giải toả tạo ra “đất sạch” nhanh chóng, xoá bỏ tình trạng quy hoạch “treo”, giải toả “treo”, thiếu “đất sạch” phục vụ các nhà đầu tư.

Sự phát triển bền vững của các KCN phải gắn liền với sự phát triển của các khu dân cư xung quanh KCN. Ngoài khu tái định cư, phải khuyến khích xây dựng khu nhà ở cho công nhân, nhà giá rẻ bán trả dần cho người lao động và cán bộ làm việc trong KCN, khuyến khích họ gắn bó lâu dài với KCN. Phát triển KCN đi đôi với quy hoạch đồng bộ mạng lưới khu dân cư, đô thị mới với các điều kiện sinh hoạt hiện đại. Quy hoạch KCN mới cần phải theo xu thế: chuyển từ KCN sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều lao động, tài nguyên sang sử dụng nhiều vốn và công nghệ kỹ thuật cao; chuyển từ KCN có ngành sản xuất gây ô nhiễm môi trường sang sản phẩm công nghiệp sạch; chuyển từ KCN sản xuất, kinh doanh đơn thuần sang KCN kết hợp sản xuất kinh doanh với nghiên cứu khoa học công nghệ và triển khai kỹ thuật công nghệ cao.

Sức hấp dẫn của KCN phụ thuộc vào nhiều yếu tố cơ sở hạ tầng, chính sách ưu đãi về thuế, giá thuê, thời gian thuê đất... của KCN, nhưng trong đó, vai trò của cơ quan nhà nước trong thiết lập cơ chế quản lý thông thoáng, đơn giản hoá các thủ tục hành chính và quan tâm công tác xúc tiến đầu tư đóng vai trò hết sức quan trọng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động cũng như khả năng phát triển một cách bền vững của KCN.

Mô hình quản lý theo cơ chế “một cửa” và vai trò đầu mối của Ban Quản lý KKT, KCN theo phân cấp, ủy quyền đã được quy định trong Nghị định số 36/CP và sau đó được mở rộng, thay thế bằng Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ đã tạo ra “tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý gọn nhẹ, linh hoạt, qua đó xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, đặc biệt là đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài”.

Ngoài việc thiết lập các kênh thông tin tập trung (website, các chương trình xúc tiến đầu tư, thiết lập các đoàn vận động đầu tư, cùng với việc liên kết chặt chẽ với các tổ chức, các nhà đầu tư quốc tế) để nâng cao tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư vào các KCN thì công tác xúc tiến đầu tư phải được tập trung vào công việc chính là đẩy nhanh tiến độ đầu tư mà không nên quá chú trọng vào các công tác bổ trợ khác như vận động đầu tư, tiếp thị đầu tư. Các cơ quan nhà nước phải đóng vai trò như người bạn đồng hành với các doanh nghiệp trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nên coi việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư nhanh chóng thực hiện dự án, triển khai có hiệu quả các dự án đầu tư đã được cấp phép, xử lý kịp thời các vướng mắc trong hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biện pháp tốt nhất để xây dựng hình ảnh, nâng cao sự hiểu biết của nhà đầu tư về sức hấp dẫn đầu tư tại tỉnh.

Hiện nay, tình trạng thiếu hụt nhân công, kể cả lao động quản lý lẫn lao động có tay nghề, đang trở thành một vấn đề quan trọng tại các KCN Long An và xuyên suốt thời gian qua, Long An vẫn chưa thể đáp ứng kịp nhu cầu. Do vậy, cần có chính sách đồng bộ về đào tạo cán bộ quản lý, đào tạo lao động kỹ thuật tại chỗ; cần mở rộng qui mô đào tạo lao động kỹ thuật để có thể tạo nguồn lao động tại chỗ, đáp ứng nhu cầu phát triển dài hạn của các KCN trên địa bàn và cơ cấu đào tạo có thể dựa trên dự báo nhu cầu theo quy hoạch phát triển KCN và theo đơn đặt hàng trực tiếp của các doanh nghiệp trong KCN. Ngoài ra, cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp trong KCN tự đào tạo lao động tại chỗ hoặc gửi đi đào tạo tại nước ngoài, góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động, đặc biệt là lao động kỹ thuật. Đồng thời, xây dựng các dịch vụ hỗ trợ quanh KCN, trong đó phát triển các loại hình cung cấp dịch vụ lưu trú, dịch vụ văn hoá - thể thao, dịch vụ thương mại, cung cấp các sản phẩm cần thiết cho đời sống người lao động, có như vậy mới đảm bảo tạo điều kiện cho người lao động an tâm gắn bó lâu dài với địa bàn và KCN.

KCN là một thực thể kinh tế và việc quản lý KCN là một hình thức quản lý đa ngành. Vì vậy, để quản lý có hiệu quả rất cần thống nhất mô hình tổ chức quản lý nhà nước ở cấp Trung ương và địa phương theo nguyên tắc quản lý “một cửa, tại chỗ”, trong đó xác định cụ thể chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Quản lý các KCN, KKT tại các địa phương; các cơ chế, chính sách đảm bảo cho các KCN, KKT hoạt động có hiệu quả và thay cơ chế ủy quyền bằng cơ chế phân cấp cho Ban Quản lý các KCN, KKT trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về đầu tư, thương mại, xây dựng, môi trường, lao động và thanh tra trong KCN gắn với cơ chế quản lý phối hợp đồng bộ giữa các ngành nhằm hạn chế tình trạng chồng chéo, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hành chính nhà nước KCN và hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN.

Vấn đề kết nối hạ tầng giao thông, cấp nước và xử lý chất thải, vấn đề thiếu lao động và vấn đề cân bằng năng lượng, trọng tâm là điện năng, phục vụ cho phát triển KCN phải được giải quyết mang tính toàn cục bằng cơ chế điều phối chung cấp vùng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đặt trên quan điểm cơ cấu của vùng chứ không phải cơ cấu của một tỉnh hay thành phố.

Thách thức lớn nhất chính là sự thiếu nhất quán trong nhận thức của các cấp quản lý về tầm quan trọng và vai trò của các KCN trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Sự thay đổi quan niệm và nâng cao nhận thức về vai trò của KCN là mấu chốt quan trọng để tổ chức giải quyết tốt các vấn đề tồn tại có liên quan đến KCN, thực hiện chủ trương phát triển KCN bền vững và theo chiều sâu được đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng XI năm 2011: “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao.”

Bích Thủy

© Trang tin điện tử Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 01 tháng 4 năm 2011
Cơ quan chủ quản: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội ĐT: 080.44889 Fax: 080.44889 - 080.44887 Email: khucongnghiep@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam" khi phát hành lại thông tin từ website này